Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn 5.KT chung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 5.KT chung. Hiển thị tất cả bài đăng

12 thg 10, 2016

Chuẩn bị làm bài viết số 2 (2016-2017)

-Thời gian làm bài 90 phút ngày Thứ 6 (20/10/2016)
1. Đọc hiểu VB: 4.0 điểm
- Phương thức biểu đạt: Gọi tên, lý giải
-Nội dung chính của vb: Luận đề, luận điểm chính.
-Ý nghĩa chi tiết, hình ảnh: Nghĩa đen, nghĩa bóng ( ý tác giả muốn nói? Thái độ tình cảm đới với điều đang được nhắc tới? Gửi đến người đọc thông điệp gì? Bài học gì? Tư tưởng gì?...)
-Biện pháp tu từ: Gọi tên, biểu hiện, ý nghĩa (nội dung? Nghệ thuật? đặc điểm gì?)
- Viết đoạn: 7-10 câu theo yêu cầu đề ( nội dung có liên quan đến văn bản đề đã cho)
+Mở đoạn:0.25 đ
+Thân đoạn:0.5đ
+Kết đoạn:0.25 đ
2. Tạo lập văn bản tự sự: kết hợp yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận ( Kể chuyện theo vai nhân vật chính)
- Phạm vi: TC,ADV-MC-TT, CT Mơtao Mơ xây
-Thang điểm:
+MB: 0.5
+TB:5.0 điểm
- Kể chuyện theo vai nhân vật chính được những sư việc chi tiết tiêu biểu (1.5đ)
Kết hợp yếu tổ miêu tả ( lời nói, tâm lý, hành động gắn với chi tiết, sự việc đang kể (2.0đ) + lời văn giàu cảm xúc (0.5 điểm)
-Rút ra bài học theo chuyên của nhân vật chính (1.0đ)
+Kết bài:0.5 điểm
3. Phân công chuẩn bị: Han chót chủ nhật 16/10/2016
Nhóm 1: TC- vai Tấm
Nhóm 2: TC-vai Cám
Nhóm 3: TC- vai Bụt
Nhóm 4: ADV-MC-TT- vai ADV
Nhóm 5: ADV-MC-TT- vai MC
Nhóm 6: ADV-MC-TT- vai TT
Nhóm 7: ADV-MC-TT- vai Rùa Vàng
Nhóm 8: CT Mơtao Mơ xây-Vai Damsan
- Sản phẩm chuẩn bị nộp trên Driver: 10A12016-2017 /Thư mục Truyện dân gian/ Bài viết số 2
-Qui ước đặt tên file: Tên nhóm-Tên bài-Vai kể
-----------------------------



1 thg 12, 2012

8 câu đầu ĐT " Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"


Trần Công Minh-10A8(2)
Nghị luận 8 câu thơ đầu “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”
                                                                Bài Làm
                 “Chinh phụ ngâm khúc” bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn,một danh sĩ hiếu học,tài ba sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, là một kiệt tác trong nền văn học cổ điển Việt Nam-đã được sự hóa thân kì diệu qua bản tương truyền của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là sự thể hiện sâu sắc nhất cảm hứng nhân đạo và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của áng thơ “Chinh phụ ngâm khúc”.Câu thơ nào cũng đầy ắp tâm trạng nhớ nhung sầu muộn của nàng chinh phụ,nhất là tám câu đầu đoạn trích “TCLLCNCP”:
                          “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
                            Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
                                  Ngoài rèm thước chẳng mach tin
                          Trong rèm,dường đã có đèn biết chăng?
                           Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
                           Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
                                  Buồn rầu nói chẳng nên lời,
                          Hoa đèn kia với bong người khá thương.”
               Ngôi nhà,phòng khuê giờ đâu trở nên thật tối tăm,chật chội.Người vợ trẻ dường như đã chờ chồng từ lâu lắm rồi.Nàng luôn khắc khoải mong chờ chồng,nỗi cô đơn như bao trùm lấy nàng:
                         “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
                            Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
                                  Ngoài rèm thước chẳng mach tin
                          Trong rèm,dường đã có đèn biết chăng?”
               Nàng dường như quên hết mọi thứ xung quanh. Cái cô đơn ,khắc khoải ở trong tâm trí đã len lỏi, gậm nhấm nàng để rồi nó hiện thành hình hài qua dáng vẻ thơ thơ,thẩn thẩn như người mất hôn. Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng.Giữa không gian tịch mịch,tiếng bước chân như gieo vào lòng người âm thanh lẻ loi, cô độc Dáng vẻ ủ ê,ngao ngán,bề ngoài gầy gò khắc sâu,hằn nếp nỗi đau trong tim.nàng thật bơ bơ,lạc lõng,lại đáng thương quá đỗi. Nàng biết làm gì đây khi ngày lại tiếp ngày,đêm lại tàn đêm trong nỗi nhớ mong vô vọng. Hết ngồi lại đứng,hết đứng lại đi,tâm trạng bồn chồn,buông rèm xuống lại kéo rèm lên,chỉ một mình một bóng giữa đêm khuya..Đã lâu lắm rồi “thước chẳng mách tin” không có một lá thư,cũng không có người thân qua lại.
               Nội tâm của nhân vật gần như được lột tả trọn vẹn từ dáng vẻ bên ngoài đến những xáo trộn bên trong.Đạp lại cho những mong mỏi của nàng chỉ có một sự im lặng, im lặng đến rợn người. Nàng không khóc mà ta như cảm được bao dòng lệ chứa chan tủi hờn đã cạn,đã thấm sâu vào nỗi buồn mênh mang không lối thoát.
                             “Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối
                              Muộn chứa đầy hãy thổi thành cơm.”
               Trong sự cô đơn,lẻ loi người chinh phụ lại càng mong có người đồng cảm và chia sẻ tâm tình:
                           “ Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
                              Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
                                  Buồn rầu nói chẳng nên lời,
                          Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
                Có ai hay cho cảnh biệt li não nề này?Không ai cả! Chỉ có một mình nàng trong canh vắng,nàng chỉ có người bạn duy nhất là ngọn đèn vô tri vô giác.Phải chăng tác giả đưa ánh đèn đến cùng nàng để mong xua bớt cái tịch liêu của đêm tối hay cũng chính là cõi lòng tan nát của nàng?Có thể như vậy.Nhưng ta còn thấy gì sau hình ảnh đó? Một chiếc đèn khuya in bóng dáng lẻ loi của một người con gái trong canh trường liệu có xua tan được phần nào sự cô tịch của đêm?hay nó càng khoắc khoải sâu hơn nữa cái hình ảnh đáng thương đó.Tả đèn chính là để tả không gian mênh mông và sự cô đơn của con người.Biện pháp này khá phổ biến trong thơ xưa ,mang tính biểu cảm cao:”Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt”.Hình ảnh đèn ở đây được nhắc đến liên tiếp trong ba câu thơ là vì vậy.Nhìn ngọn đèn cháy năm canh,dầu đã cạn,bấc đã tàn,nàng chợt liên tưởng đến tình cảnh của mình và trong lòng rưng rưng nỗi thương thân trách phận.Thương cho đèn rồi lại thương cho lòng mình bi thiết.
                              Buồn rầu nói chẳng nên lời,
                          Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”    
                Về nghệ thuật,với thể thơ song thất lục bát,cách dung từ,hình ảnh ước lệ,đoạn thơ đã thể hiện một cách tinh tế các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ của người chinh phụ luôn khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phục lứa đôi.Về nội dung,đoạn trích cũng thể hiện tấm lòng thương yêu và cảm thong sâu sắc của tác giả với khát khao hạnh phúc chính đáng của người chinh phụ.Cất lên tiếng kêu nhân đạo,phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa.
                Qua đoạn thơ, ta cảm nhận chất nhạc lôi cuốn trong thơ song thất lục bát,khả năng lớn lao của tiếng Việt trên lĩnh vực trữ tình.Đoạn thơ giàu giá trị nhân văn,đã thể hiện sâu sắc và cảm động sự oán ghét chiến tranh phong kiến và niềm khao khát tình yêu,hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ giữa thời chiến tranh loạn lạc trong xã hội cũ.

11 thg 3, 2012

8 câu cuối " Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"

ĐỖ NGỌC ANH THƯ ------ LỚP : 10a8------STT:35
ĐỀ : CẢM NHẬN CỦA ANH (CHỊ) VỀ 8 CÂU CUỐI CỦA ĐOẠN TRÍCH “TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ”
Nhắc đến Đặng Trần Côn ta thường nhớ đến ông là một nhà thơ sống vào đầu thế kỉ XVIII, mặt khác tên tuổi của ông còn gắn liền với tác phẩm nổi tiếng “Chinh phụ ngâm” .Trong đó 8 câu cuối của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của toàn bộ tác phẩm qua việc thể hiện khát khao về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ trong thời chiến loạn
“Lòng này gửi gió Đông có tiện ?
Nghìn vàng xin gửi đền non Yên
Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa với khôn thấu
Thiếp nhớ chàng đau đáu nào xong
Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”

Nhớ hình bóng của người chồng , người chinh phụ thỗn thức hướng cái nhìn nội tâm về miền biên ải xa xôi.Nếu như ở khổ trước người chinh phụ càng cảm thấy cô đơn buồn sầu tới bao nhiêu thì ở 8 câu này nỗi nhớ nhung của người chinh phụ lại càng tăng lên bây nhiêu cùng với sự thương nhớ ấy là tâm trạng lo lắng cho số phận của người chồng nơi biên ải . Trạng thái lo lắng của người chinh phụ được tác giả thể hiện như một mạch ngầm dù người chinh phụ không nói ra nhưng ta vẫn cảm nhận được , thể hiện sự tinh tế trong miêu tả nội tâm của tác giả
Đầu tiên tác giả đã nhân hoá gió đông như một người đưa tin đến non Yên nhằm nhấn mạnh nỗi mong nhớ lo lắng của người chinh phụ về người chồng
 Lòng này gửi gió đông có tiện ?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
Vì quá thương nhớ chồng mà người vợ phải nhún nhường xin hỏi ngọn gió để gửi tin cho chồng mình, phải nói đó là một người đưa tin đặc biệt , đưa một cái tin đặc biệt đó là cái tin về tình cảm yêu thương nhung nhớ của người vợ giành cho người chồng nơi chinh chiến.Ngoài ra cái tin ấy được đưa đến”non Yên”- một vùng hẻo lánh xa xôi nơi người chồng đang xông pha trận mạc ,khốn nguy vô cùng .Qua việc dùng bút pháp nhân hoá , hình ảnh ước lệ “non Yên” , “gió Đông”,câu hỏi tu từ tác giả mở ra không gian mênh mông gợi thêm nỗi trống trãi cô đơn cho cảnh vật từ đó xoáy sâu vào sự nhớ nhung khắc khoải, da diết của người chinh phụ
Nỗi nhớ đằng đẳng ấy làm nàng mòn mỏi cuối cùng được nâng lên thành nỗi đau, một nỗi đau vô hình đã dược tác giả tạo hình hài qua 4 câu
 Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa với khôn thấu
Thiếp nhớ chàng đau đáu nào xong
Cùng với nỗi nhớ thương mong đợi ,từ “đằng đẵng” gợi cảm giác triền miên liên tục tưởng kéo dài đến vô tận nên được tác giả hình dung bằng sự so sánh với đường lên trời.nỗi nhớ của người chinh phụ đằng dẵng, miệt mài,không thể nguôi ngoai và không thể dùng toán học mà cân đếm được.Nhưng trớ trêu thay khoảng cách giữa nàng và người chồng dường như khó chạm tới dược , sự xa cách nghìn trùng mây .Bằng việc mở rộng không gian ,”trời thăm thẳm xa với khôn thấu”như là lời than thở,ai oán thể hiện sự tuyệt vong của người chinh phụ sau nhiều ngày tháng mòn mỏi đợi tin chồng và chính từ đó nỗi đau xuất hiện, từ “đau đáu” biểu lộ sắc thái tăng tiến,sự dồn nén cảm xúc thành nỗi xót xa đắng cay nối dài bất tận trong lòng người chinh phụ
Giống như tâm sự Thúy Kiều trong Truyện Kiều: "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu - Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?", người chinh phụ thấy cảnh vật vô hồn, thê lương như tâm trạng của mình lúc bấy giờ
                            Cảnh buồn người thiết tha lòng,
                            Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.
Đó là mối quan hệ giữa con người và tâm cảnh , người vui thì  tâm trạng vui thấm vào cảnh vật nhìn đâu cũng thấy toàn niềm vui chất chứa sự sống.Còn người buồn thì nỗi buồn thấm vào tâm can nên nhìn cảnh vật thấy sầu não ,thê lương.Ỡ đây hình ảnh “cành cây sương đượm”,”tiếng trùng”,”mưa phun” là hình ảnh ẩn dụ cho nỗi buồn chất chứa sâu lắng của người chinh phụ ,sự mòn héo của cảnh vật hay do lòng người mòn héo mà ra .
Tác giả đã sử dụng điêu luyện thể thơ song thất lục bát, phối hợp các hính ảnh ước lệ “non yên”,”gió Đông”,với hình ãnh ẩn dụ “sương đượm”,”mưa phun” ,đặc biệt là sự thành công trong bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật, tả cảnh ngụ tình tác giả đã đưa người đọc qua các cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ trình một cách tự nhiên nhất và thể hiện ước mơ khát vọng  chính đáng của họ về tình yêu và hạnh phúc
Với cách dùng từ hình ảnh ước lệ ,đoạn thơ đã thể hiện một cách tình tế khát khao về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ .Đồng thời thể hiện sự thương cảm sâu sắc của tác giả với ước mơ chính đáng của người phụ nữ cũng là lời tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa là biểu hiện của cãm hứng nhân văn cho toàn doạn trích
 còn thiếu  kết luận????
                           

8 câu cuối "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"


Trần Công Minh-10A8(3)
Nghị luận 8 câu thơ cuối “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”
                                                           Bài làm
             “Chinh phụ ngâm khúc” bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn,một danh sĩ hiếu học,tài ba sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, là một kiệt tác trong nền văn học cổ điển Việt Nam-đã được sự hóa thân kì diệu qua bản tương truyền của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là sự thể hiện sâu sắc nhất cảm hứng nhân đạo và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của áng thơ “Chinh phụ ngâm khúc”.Câu thơ nào cũng đầy ắp tâm trạng nhớ nhung sầu muộn của nàng chinh phụ,nhất là tám câu dưới đây
                                “Lòng này gửi gió đông có tiện?
                                  Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
                                           Non Yên dù chẳng tới miền,
                                  Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
                                        Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
                                         Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
                                           Cảnh buồn người thiết tha lòng,
                                   Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”
Trước hết là một ước mong cháy bỏng đêm ngày:
                                 “Lòng này gửi gió đông có tiện?
                                  Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.”
“Lòng này” là sự thương nhớ khôn nguôi, vì đã trải qua nhiều đợi chờ “Trài mấy thu đi tin nhạn lại-Tới xuân này,tin hãy vắng không”Gió đông là gió xuân.Trong cô đơn, người chinh phụ chỉ biết hỏi gió,nhờ gió đưa tin,nhắn tin tới người chồng yêu thương nơi chiến địa xa xôi,nguy hiểm,nơi non Yên nghìn trùng.Non yên,một địa danh cách xa Thiểm Tây, Trung Quốc hơn hai ngàn dặm về phía bắc.Hỏi gió,nhờ gió nhưng”có tiện”hay không? Nếu “tiện” thì dẫu mất ngàn vàng cũng chịu.Chỉ còn biết hỏi gió nữa mà thôi,thì sự cô đơn của “lòng này” không thể nào tả hết.Làm sao tới được non Yên,nơi người chồng đang “nằm vùng cát trắng,ngủ cồn rêu xanh”?Chỉ còn lại nỗi nhớ:
                                “Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời”.
“Nhớ đằng đẵng” nghĩa là nhớ mãi,nhớ nhiều,nhớ lâu,nhớ không bao giờ nguôi.Trong truyện Kiều cũng có câu tương tự để diễn tả nỗi nhớ nhung: “Một ngày đằng đẵng xem bằng ba thu”.
Câu thơ “Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời” là một câu thơ tuyệt bút,vừa diễn tả một nỗi nhớ thương đè nặng trong lòng,triền mien theo thời gian đêm ngày năm tháng
(đằng đẵng) không bao giờ nguôi,vừa được cụ thể hóa bằng độ dài của không gian(đường lên bằng trời).khi giải thích nghĩa câu thơ này,Nguyễn Thạch Giang đã viết :”Lòng nhớ chồng thăm thẳm dài dằng dặc vẫn có thể đến được dù có như đường lên trời”.Có thể nói,dịch giả Đoàn Thị Điểm đã có một cách nói rất sâu sắc để cực tả nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ.Nỗi nhớ thương ấy,tiếng lòng thiết tha ấy lại được diễn tả qua âm điệu triền miên cảu vần thơ song thất lục bát với thủ pháp nghệ thuật liên hoàn-điệp ngữ.Cả một trời thương nhớ mênh mông.Nỗi buồn triền mien,dằng dặc vô tận:” Lòng này gửi gió đông có tiện? - Nghìn vàng xin gửi đến non Yên-Non Yên dù chẳng tới miền-          Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời- Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu…”
Sau khi hỏi “gió đông”để bày tỏ niềm thương nỗi nhớ chồng “đằng đẵng”,nàng chinh phụ lại hỏi trời để rồi tủi thân,than trách”
                                       “Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
                                         Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.”
Trời ở cao xa,không chỉ là cao mà là thăm thẳm,không chỉ là xa mà trở nên xa vời,nên không thấu,không hiểu sao cho “nỗi nhớ chàng”của người vợ trẻ.Nỗi nhớ càng trở nên đau đáu trong lòng.Đau đáu nghĩa là áy náy,lo lắng,day dứt khôn nguôi.Có thể nói qua cặp từ láy:”đằng đẵng” và “đau đáu”,dịch giả đã thành công trong việc miêu tả những thương nhớ, đau buồn,lo lắng của người chinh phụ một cách cụ thể,tinh tế,sống động.Tâm trạng ấy được miêu tả trong quá trình phát triển mang tính bi kịch đáng thương.
Ở hai câu cuối,nhà thơ lấy ngoại cảnh để thể hiện tâm cảnh;nghệ thuật tả cảnh ngụ tình cực kì điêu luyện.Tính hình tượng kết hợp với tính truyền cảm tạo nên sắc điệu trữ tình sâu lắng thiết tha:
                                         “Cảnh buồn người thiết tha lòng,
                                   Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”
             Nỗi thương nhớ,lúc thì “đằng đãng”,lúc thì “đau đáu”,triền mien suốt ngày đêm.Đêm nối đêm như dài thêm.Càng cô đơn thì càng thao thức.Nhìn cành cây ướt dẫm sương đêm mà thâm lạnh lẽo.nghe tiếng trùng kêu rả rich thâu canh như tiếng đẫm sương đêm mà them lạnh lẽo.nghe tiếng trùng kêu rả rich thâu canh như tiếng “mưa phùn” mà thâm buồn nhớ.Âm thanh ấy,cảnh sắc ấy vừa lạnh lẽo vừa buồn,càng khơi gợi trong lòng người vợ trẻ,cô đơn biết bao thương nhớ,lo lắng,buồn rầu.Lòng đau đớn như bị cắt xứa,chà xát.Có thể nói hai câu thơ”Chinh phụ ngâm khúc” này rất gần gũi với hai câ “Kiều” nổi tiếng:
                                        “Cảnh nào cảnh chằng đeo sầu,
                                   Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ…”.
              Về nghệ thuật,với thể thơ song thất lục bát,cách dung từ,hình ảnh ước lệ,đoạn thơ đã thể hiện một cách tinh tế các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ của người chinh phụ luôn khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phục lứa đôi.Về nội dung,đoạn trích cũng thể hiện tấm lòng thương yêu và cảm thong sâu sắc của tác giả với khát khao hạnh phúc chính đáng của người chinh phụ.Cất lên tiếng kêu nhân đạo,phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa.

              Qua đoạn thơ,ta cảm nhận chất nhạc lôi cuốn trong thơ song thất lục bát,khả năng lớn lao của tiếng Việt trên lĩnh vực trữ tình.Đoạn thơ giàu giá trị nhân văn,đã thể hiện sâu sắc và cảm động nỗi buồn và niềm khao khát hạnh phúc của người chinh phụ giữa thời loạn lạc chiến tranh tàn khốc trong xã hội cũ.



          



8 câu đầu ĐT " Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"

Trần Công Minh-10A8(2)
Nghị luận 8 câu thơ đầu “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”
                                                                Bài Làm
                 “Chinh phụ ngâm khúc” bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn,một danh sĩ hiếu học,tài ba sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, là một kiệt tác trong nền văn học cổ điển Việt Nam-đã được sự hóa thân kì diệu qua bản tương truyền của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là sự thể hiện sâu sắc nhất cảm hứng nhân đạo và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của áng thơ “Chinh phụ ngâm khúc”.Câu thơ nào cũng đầy ắp tâm trạng nhớ nhung sầu muộn của nàng chinh phụ,nhất là tám câu đầu đoạn trích “TCLLCNCP”:
                          “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
                            Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
                                  Ngoài rèm thước chẳng mach tin
                          Trong rèm,dường đã có đèn biết chăng?
                           Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
                           Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
                                  Buồn rầu nói chẳng nên lời,
                          Hoa đèn kia với bong người khá thương.”
               Ngôi nhà,phòng khuê giờ đâu trở nên thật tối tăm,chật chội.Người vợ trẻ dường như đã chờ chồng từ lâu lắm rồi.Nàng luôn khắc khoải mong chờ chồng,nỗi cô đơn như bao trùm lấy nàng:
                         “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
                            Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
                                  Ngoài rèm thước chẳng mach tin
                          Trong rèm,dường đã có đèn biết chăng?”
               Nàng dường như quên hết mọi thứ xung quanh. Cái cô đơn ,khắc khoải ở trong tâm trí đã len lỏi, gậm nhấm nàng để rồi nó hiện thành hình hài qua dáng vẻ thơ thơ,thẩn thẩn như người mất hôn. Nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng.Giữa không gian tịch mịch,tiếng bước chân như gieo vào lòng người âm thanh lẻ loi, cô độc Dáng vẻ ủ ê,ngao ngán,bề ngoài gầy gò khắc sâu,hằn nếp nỗi đau trong tim.nàng thật bơ bơ,lạc lõng,lại đáng thương quá đỗi. Nàng biết làm gì đây khi ngày lại tiếp ngày,đêm lại tàn đêm trong nỗi nhớ mong vô vọng. Hết ngồi lại đứng,hết đứng lại đi,tâm trạng bồn chồn,buông rèm xuống lại kéo rèm lên,chỉ một mình một bóng giữa đêm khuya..Đã lâu lắm rồi “thước chẳng mách tin” không có một lá thư,cũng không có người thân qua lại.
               Nội tâm của nhân vật gần như được lột tả trọn vẹn từ dáng vẻ bên ngoài đến những xáo trộn bên trong.Đạp lại cho những mong mỏi của nàng chỉ có một sự im lặng, im lặng đến rợn người. Nàng không khóc mà ta như cảm được bao dòng lệ chứa chan tủi hờn đã cạn,đã thấm sâu vào nỗi buồn mênh mang không lối thoát.
                             “Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối
                              Muộn chứa đầy hãy thổi thành cơm.”
               Trong sự cô đơn,lẻ loi người chinh phụ lại càng mong có người đồng cảm và chia sẻ tâm tình:
                           “ Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
                              Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
                                  Buồn rầu nói chẳng nên lời,
                          Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
                Có ai hay cho cảnh biệt li não nề này?Không ai cả! Chỉ có một mình nàng trong canh vắng,nàng chỉ có người bạn duy nhất là ngọn đèn vô tri vô giác.Phải chăng tác giả đưa ánh đèn đến cùng nàng để mong xua bớt cái tịch liêu của đêm tối hay cũng chính là cõi lòng tan nát của nàng?Có thể như vậy.Nhưng ta còn thấy gì sau hình ảnh đó? Một chiếc đèn khuya in bóng dáng lẻ loi của một người con gái trong canh trường liệu có xua tan được phần nào sự cô tịch của đêm?hay nó càng khoắc khoải sâu hơn nữa cái hình ảnh đáng thương đó.Tả đèn chính là để tả không gian mênh mông và sự cô đơn của con người.Biện pháp này khá phổ biến trong thơ xưa ,mang tính biểu cảm cao:”Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt”.Hình ảnh đèn ở đây được nhắc đến liên tiếp trong ba câu thơ là vì vậy.Nhìn ngọn đèn cháy năm canh,dầu đã cạn,bấc đã tàn,nàng chợt liên tưởng đến tình cảnh của mình và trong lòng rưng rưng nỗi thương thân trách phận.Thương cho đèn rồi lại thương cho lòng mình bi thiết.
                         “     Buồn rầu nói chẳng nên lời,
                          Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”    
                Về nghệ thuật,với thể thơ song thất lục bát,cách dung từ,hình ảnh ước lệ,đoạn thơ đã thể hiện một cách tinh tế các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ của người chinh phụ luôn khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phục lứa đôi.Về nội dung,đoạn trích cũng thể hiện tấm lòng thương yêu và cảm thong sâu sắc của tác giả với khát khao hạnh phúc chính đáng của người chinh phụ.Cất lên tiếng kêu nhân đạo,phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa.
                Qua đoạn thơ, ta cảm nhận chất nhạc lôi cuốn trong thơ song thất lục bát,khả năng lớn lao của tiếng Việt trên lĩnh vực trữ tình.Đoạn thơ giàu giá trị nhân văn,đã thể hiện sâu sắc và cảm động sự oán ghét chiến tranh phong kiến và niềm khao khát tình yêu,hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ giữa thời chiến tranh loạn lạc trong xã hội cũ.

Cảm nhận về nhân vật Tử Văn


Tên: Phạm Trần Yến Vy     lớp: 10a8
          ĐỀ :

Nguyễn Dữ là tác giả tiêu biểu sống vào khoảng thế kỉ XVI. Ông để lại cho đời một tác phầm duy nhất và rất có giá trị đó là “ Truyền kì mạn lục”. “ Truyền kì mạn lục là một bức tranh hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm gồm hai mươi truyện, trong đó “ CCPSDTV” là một trong những truyện tiêu biểu của “Truyền kì mạn lục”. “CCPSDTV” đã phê phán hiện thực xã hội qua những yếu tố hoang đường, phản ánh khá rõ tinh thần dân tộc, đồng thời ca ngơi phẩm chất của kẻ sĩ. Kẻ sĩ ở đây chính là Ngô Tử Văn,  nhân vật trung tâm xuyên suốt toàn bộ câu truyện với phẩm chất dũng cảm, khẳng khái và cương trực.
Ngô Tử Văn xuất hiện ngay từ đầu truyện qua lời giới thiệu của tác giả. Chàng được biết đến là một người có tính tình bộc trực, khảng khái, thấy gian tà là không thể chịu nổi. Lời giới thiệu mang giọng ngợi khen, có tác dụng định hướng cho người đọc hành động kiên quyết của nhân vật.
Minh chứng cho tính tình bộc trực, dũng cảm của Ngô Tử Văn là hành động đốt đền của chàng. Hành động ấy là ngòi nổ cho một cuộc chiến đấu của chàng và hồn ma tên tướng giặc bại trận. Tử Văn đã chuẩn bị thật kĩ lưỡng “ tắm rửa sạch sẽ” rồi chàng “ châm lửa đốt đèn”. Trong khi ai cũng lắc đầu, lè lưỡi ngao ngán , không dám làm gì quỷ thần ở ngôi đền này thì Tử văn cương quyết đốt đền và “ vung tay không sợ gì cả”. Ta dẽ dàng nhận thấy được phẩm chất tiêu biều của kẻ sĩ nước Việt lúc bấy giờ thông qua nhân vật Tử Văn, một thái độ dứt khoát, bất chấp hậu quả xấu cho bản thân, chàng đã vì nghĩa lớn, vì an lành, hạnh phúc của nhân dân mà hành động.
Sự cương trực, khảng khái của Tử Văn còn được bộc lộ qua cuộc gặp gỡ giữa chàng với hồn ma tên tướng giặc. Hồn ma tên tướng giặc tỏ ra gian trá, xảo quyệt “ tự xưng mình là cư sĩ”, buông lời mắng mỏ, uy hiếp Tử Văn, dung tà phép khiến chàng bị một cơn sốt nóng, sốt rét. Trước sự ngang ngược và quyền phép đáng sợ của tên tướng giặc, “Tử Văn vẫn mặc kệ, ngất ngưởng tự nhiên”. Thái độ ấy cho ta thấy được một niềm tin vào chính nghĩa mãnh liệt từ chàng, một khí phách cứng còi của một người anh hung trừ gian diệt bạo cho nhân dân, luôn tỏ ra điềm tỉnh dù đang đứng trước một thế lực hung  tàn.
Tính cách kiên định chính nghĩa của Ngô Soạn còn thể hiện rõ trong quá trình chàng bị lôi xuống địa phủ. Cảnh địa phủ rùng rợn với quỷ sứ hung ác, con sông đầy gió tanh sóng xám. Tử Văn bị bọn quỷ sai lôi đi rất nhanh, bị phán xét lạnh lùng là kẻ “tội sâu ác nặng, không được liệt vào hàng khoan giảm”, bị kết thêm tội ngoan cố bướng bỉnh nhưng chàng chẳng hề run sợ, không hề nhụt chí, một mực kêu oan, đòi phải được phán xét công khai, minh bạch. Diêm Vương-người cầm cán cân công lí cũng hồ đồ, vu oan cho Tử Văn, nhưng trước hoàn cảnh như vậy. Tử Văn càng chứng tỏ mình là một người có khí phách. Chàng kiên quyết đấu tranh, dũng cảm vạch mặt tên bạo tướng gian tà bằng những lời lẽ đanh thép, “cứng cỏi, không chịu nhún nhường chút nào”. Giữa chốn công đường nơi âm phủ, tính cách Tử văn vẫn bộc trực, khẳng khái, vẫn một quyết tâm sắt đá, chàng chiến đấu đến cùng vì lẽ phải. Cuối cùng, chàng đã đánh lui tất cả, bảo toàn sự sống của mình, đánh bại tên tướng giặc gian trá,phục hồi chức vị cho thổ thần và được giữ chức Phán sự ở đền Tản Viên, chịu trách nhiệm  giữ gìn, bảo vệ công lí.
Sự thắng lợi này đã khẳng định chàng là người tốt, chính nghĩa, dám đấu tranh để thực hiện công lí. Con người của chính nghĩa đã được đứng ra để thực hiện công lý là một thắng lợi có ý nghĩa sâu sắc, khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà. Chi tiết nhận chức Phán sự như là “ phần thưởng” của tác giả dành cho nhân vật chính, chi tiết đã thể hiện niềm tin vào sự sống: “ Ở hiền gặp lành”. Tử Văn được trở về sống với thế giới thần thánh, bất tử, một nơi dành cho những con người hiền lành, tốt bụng, dũng cảm và khảng khái.
Truyện ca ngợi nhân vật Ngô Tử Văn, một trí thức nước Việt có nhân cách cứng cỏi, cao đẹp, qua đó bộc lộ niềm tin vào công lí, vào việc chính nghĩa thắng tà. Đồng thời qua tác phẩm ta cũng thấy được một bức tranh về một xã hội nhiểu nhương, cái ác lộng hành, quan lại tham nhũng lúc bấy giờ.

Cảm nhận câu 1-8 đoạn "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ"

Tên: Phạm Trần Yến Vy      Lớp: 10a8
Đề: Cảm nhận của em về tám câu cuối đoạn trích “ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”

Đặng Trần Côn là tác giả sống vào nửa đầu thế kỉ XVIII, tài nghệ văn chương của ông lừng thiên hạ vời nhiều tác phẩm nổi tiếng, một trong số ấy có “ Chinh phụ ngâm”. Tác phẩm “ Chinh phụ ngâm” thuộc thể loại ngâm khúc, có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Đoạn trích “ TCLLCNCP” được trích trong tác phẩm đã thể hiện nỗi nhớ mong người chồng chinh chiến cùng với khát khao hạnh phúc của ngưởi chinh phụ. Đặc biệt qua tám câu thơ đầu của đoạn trích, người đọc dễ dàng cảm nhận được tình cảnh trống vắng và tâm trạng của nhân vật trữ tình.

          Mở đầu đoạn trích, tác giả đã miêu tả tâm trạng của người chinh phụ, thông qua những hành động:
                   “ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
                       Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
          Đây là lời than thở triền miên, da diết của người phụ nữ có chồng ra trận. Tác giả đã dùng bút pháp miêu tả nội tâm qua ngoại hình, hành động lặp đi lặp lại không mục đích của người chinh phụ và dáng vẻ buồn rầu, ủ ê không nói lên lời, trong hiên vắng thẫn thờ đợi chồng về. Thời gian đã là chiều tối, không gian là một khoảng hiên vắng lặng cùng với cử chỉ “gieo từng bước” như khắc họa rõ nét cảm giác cô đơn, quạnh vắng của người chinh phụ. Với một khung cảnh như vậy, gợi cho ta sự sum họp, đầm ấm của gia đình, nhưng giờ đây chỉ có mình người phụ nữ lẻ loi, cô độc trong khoảng không trống vắng, không có người chồng bên cạnh. Cảm giác trống trải bủa vây người chinh phụ làm cho nàng gieo từng bước chân một cách mệt mỏi và chậm rãi. Mỗi bước chân như chất chứa nỗi lòng, nỗi ưu tư phiền muộn của người phụ nữ xa chồng, đang mong ngóng từng ngày chồng  trở về. Người phụ nữ như quặn thắt trong lòng khi chỉ nghe được tiếng bước chân âm thầm của mình.
                    “ Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”
          Hành động buông rèm rồi cuốn lên nhiều lần đó là hành động lặp đi, lặp lại không có mục đích rõ ràng, thề hiện một tâm trạng tù túng, nóng ruột. Cảm giác vừa nhớ nhung da diết, vừa lo lắng sốt ruột cho sự an nguy của chồng mình đang đi chinh chiến phương xa. Nỗi nhớ cùng với tâm trạng mong ngóng đợi tin của chồng  dồn nén ở người chinh phụ, tạo ra một cảm giác cô đơn buồn khổ ở nhân vật trữ tình. Chẳng những thế, càng mong ngóng chờ đợi thì kết quả lại chẳng được gì
                   “ Ngoài rèm thước chẳng mách tin”
          “ Thước” là loài chim báo tin lành, báo tin người đi xa đã trở về. Thế mà ngay lúc này, con chim Thước lại im bặt, làm cho nỗi nhớ, nỗi khắc khoải mong chờ trong lòng người chinh phụ lại tăng lên gấp bội. Chim thước chẳng mách tin, người chông yêu thương vẫn chưa trở về, nỗi đau đớn âm thầm nhưng quá lớn ấy khiến nàng khao khát có sự đồng cảm. Nhưng trong khung cảnh đau buồn này thì chỉ có ngọn đèn leo lét làm bạn với nàng.
                   “ Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”
          Tâm trạng quá cô đơn đã làm cho nàng phải thốt lên câu hỏi: Liệu ngọn đèn dầu mờ ảo ấy có thấu chăng nỗi lòng của nàng, có chiếu sáng được đến tâm can đang mong nhớ chồng của nàng, Liệu ngọn đèn có thấu hiểu được sức nặng của nỗi cô đơn, của sự nhung nhớ lại dồn cả lên nàng .Câu hỏi tu từ như là tâm trạng của người chinh phụ, câu hỏi nhưng không có câu trả lời, nhân vật trữ tình hỏi ngọn đèn-một vật vô tri vô giác- nhưng dường như đang muốn được bày tỏ nỗi lòng của mình.Đó chính là lời than thở, hi vọng trong nàng, nỗi khắc khoải đợi chờ đã trở nên day dứt không yên.
                   “ Đèn có biết dường bằng chẳng biết
                     Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”
          Điệp ngữ bắc cầu “ Đèn biết chăng - đèn có biết” diễn tả nỗi tù tùng, nỗi buồn dài lê thê của người chinh phụ.Hình ảnh “ đèn” đã được lặp lại hai lần.hân vật trữ tình đã giải tỏa tâm sự với ngọn đèn, nhưng một vật vô tri vô giác như vậy thì làm sao hiều rõ được cảm giác của người chinh phụ. Nhân vật trữ tình lại ôm nỗi cô đơn, buồn bã một mình. Nhìn ngọn đèn  leo lét trong màn đêm tĩnh mịch như vậy, lòng người chinh phụ càng thêm quặn thắt. Ngọn đèn là hình ảnh gợi cảm giác sum họp, ấm áp, càng khắc sâu nỗi cô đơn, buồn bã, khắc khoải trong lòng người.
                   “ Buồn rầu nói chẳng nên lời,
               Hoa đèn kia với bóng người khá thương”
          Kết thúc tám câu thơ là hình ảnh “ hoa đèn”. “ Hoa đèn” là đầu bấc đèn dầu đã cháy như than nhưng được nung đỏ lên trông như hoa. Hình ảnh “ngọn đèn, hoa đèn”, gợi cho ta liên tưởng đến hình ảnh “ đèn không tắt trong bài ca dao
                   “ Đèn thương nhớ ai
                     Mà đèn không tắt?”
          Trong im lặng dằng dặc, dưới ánh đèn đêm thăm thẳm, chinh phụ trẻ chỉ có biết trò chuyện với cái bóng của chính mình, với ngọn đèn, gợi cho ta cảm nhận được nỗi cô đơn khắc khoải và vô vọng của người chinh phụ.
          Qua tám câu thơ đầu, người đọc đã cảm nhận được những  tâm trạng của  người chinh phụ. Khung cảnh quạnh hiu, trống vắng cùng với những động từ miêu tả hành động để thể hiện tâm trạng, điệp ngữ bắc cầu
  đã khắc họa sự ưu tư, phiền muộn và cô đơn của nhân vật trữ tình khi nhớ về người chồng chinh chiến của mình.

Lòng Dũng cảm


Đề : SUY NGHĨ CÙA ANH CHỊ VỀ LÒNG DŨNG CẢM
Một con tằm phải trải qua đau đớn để tự chui ra khỏi cái kén và trở thành con bướm bíêt bay. Một hạt giống nằm sâu trong lòng đất nảy mầm phải tự vươn thẳng lên xuyên qua tầng đất dày để thành cây cứng cáp. Những thử thách đã làm nên giá trị của sự thành công và ta sẽ không thể vượt qua được những thử thách ấy để thành công nếu không có  lòng dũng cảm.

Dũng cảm là dám đương đầu với mọi khó khăn, gian lao vất vả, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì công l‎‎í, không sợ hãi, hèn yếu mà bỏ cuộc;dám vượt qua mọi thử thách, thậm chí là giới hạn của chính mình, chiến thắng bản thân để hoàn thành mục đích đề ra.

Dũng cảm là một đức tính cao đẹp, vô cùng cần thiết, luôn được đề cao từ xưa đến nay. Thế nên mới nói, dũng cảm ảnh hưởng rất lớn đối với mỗi còn người. Lòng dũng cảm giúp  ta chấp nhận hậu quả sau mỗi quyết định, dám đứng lên sau mỗi lần vấp ngã, đương đầu với những nỗi khổ đau và quan trọng hơn hết là tạo cho ta sức mạnh để chiến thắng chính mình, vượt qua số phận mà đến với thành công. Không chỉ vậy, lòng dũng cảm còn là động lực giúp ta đứng lên bảo vệ công lí, động cơ nâng cao tình thần tương thân tương ái giữ người với người và cuối cùng nâng cao hơn là tình yêu Tổ quốc. Ta có thể thấy dù trong thời kì nào đi chăng nữa thì luôn có sự hiện diện của lòng dũng cảm. Thời xưa thì có Trần Bình Trọng thà “ làm ma nước Nam chứ không làm vương đất Bắc”, thời chống Pháp, chống Mỹ thì có anh Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng để đoàn quân tiến về phía trước hay các cô gái Ngã ba Đồng Lộc không ngại hiểm nguy phá đá mở đường cho đoàn xe tiến tới.Và trong cuộc sống hiện nay của thời kì đổi mới, lại cũng có không ít những tấm gương về lòng dũng cảm vô cùng đáng khâm phục như các bác xe ôm Võ Việt Cường ở chợ Tân Định tay không bắt cướp, cậu học trò Phạm Văn Phong cứu sống cả ba  người bị chết đuối trong lúc đang đi bắt ốc trên ghe ,… Bởi vậy nếu nói rằng  lòng dũng cảm quả thực trở thành phẩm chất tạo nên những bậc anh hùng thì quả thực không sai.

Lòng dũng cảm cần thiết là vậy nhưng đáng buồn thay khi cũng vẫn còn đó những con người hèn nhát nhu nhược. Họ mới gặp chút khó khắn đã sớm chán nản,thoái lui rồi càn dấn sâu vào con đường sai trai hay tự kết liễu đời mình như những trường hợp tự tử vì thi rớt đại học hay thất tình mà ta vẫn thường nghe thấy trên báo đài.Bên cạnh đó, ta cũng cần phân biệt lòng dũng cảm thực sự với sự bồng bột liều lĩnh nhất thời hùa theo những điều sai trái, bất chấp lời khuyên răng của mọi người để rồi không chỉ hại người mà còn hại đến mình.

Vậy làm sao để rèn luyện được lòng dũng cảm?Thế nên học sinh chúng ta cần phải có đủ bản lĩnh, không sợ hãi khi đối đầu với khó khăn mà và cố gắng học tập thật tốt, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Chúng ta cần rèn luyện lòng dũng hằng ngày, từ những việc nhỏ nhất. Đơn cử như…………………..

Người có lòng dũng cảm, dám hy sinh lợi ích cá nhân của mình đấu tranh vì lợi ích chung của cộng  đồng xã hội sẽ được mọi người kính trọng mến phục. Do đó, ngày nay thì tuổi trẻ chúng ta cần phải không ngừng rèn luyện cho mình lòng dũng cảm, cùng với các đức tính khác ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường để ngày càng hoàn thiện bản thân,sớm trở thành một người thành công,công dân tốt phục vụ cho xã hội, cho đất nước.

NHẬT HẠ 10A8

19 thg 1, 2011

Thể Phú

-Phú là một thể văn có nguồn gốc từ Trung Quốc.
-Phú thường có vần hoặc văn vần xen lẫn văn xuôi, dùng để tả cảnh vật, phong tuc, kể sự việc, bàn chuyện đời…
-Một bài phú gồm 4 đoạn: đoạn mở, đoạn giải thích, đoạn bình luận và đoạn kết. Loại phú có trước thời Đường là phú cổ thể, có vần, không nhất thiết phải có đối, cuối bài thường được kết lại bằng thơ.
-Tác phẩm tiêu biểu: “Bạch Đằng giang phú” (Trương Hán Siêu), “Chí Linh sơn phú” (Nguyễn Trãi), “Hàn nho phong vị phú”(Nguyễn Công Trứ)…

THUYẾT MINH TP "BẠCH ĐẰNG GIANG PHÚ"

 NGUYỄN THUỲ DƯƠNG  LỚP 10A8

Thuyết minh tác phẩm “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu

BÀI LÀM
Trương Hán Siêu không chỉ là một bậc danh sĩ đời Trần mà còn người tài cao, học rộng.Hiện ông còn để lại 4 bài thơ và 3 bài văn, nổi tiếng nhất là "Bạch Đằng giang phú“-1 tác phầm mang đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại VN.
Trong thơ văn cổ Việt Nam có một số tác phẩm lấy đề tài sông Bạch Đằng như:“Bạch Đằng giang”-Trần Minh Tông,“Bạch Đằng giang”-Nguyễn Sưởng, “Bạch Đằng hải khẩu”-Nguyễn Trãi… nhưng”Bạch Đằng giang phú”cũa Trương Hán Siêu được xếp vào hạng kiệt tác và được viết vào khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên thắng lợi.Bài phú này mang những đặc trưng cơ bản của thể phú,vì thế nó gồm có 4 phần: phần mở,phần giải thích,phần bình luận và phần kết.
Mở đầu bài phú,tg bày tỏ ước muốn được đi đây, đi đó để thưởng ngoạn và ngắm vẻ đẹp của quê hương, đất nước.
“Khách có kẻ
Giương buồm giong gió chơi vơi,
Lướt bể chơi trăng mải miết.”
Tg đã liệt kê 1 loạt những địa danh nổi tiếng,những nơi có vẻ đẹp được nhiều người biết đến ở Trung Quốc như:Vũ Huyệt,Cửu Giang,Ngũ Hồ, Tam Ngô,Bách Việt... Đây là cách nói ước lệ tượng trưng tác giả bày tỏ niềm khao khát mãnh liệt được đi du ngoạn nhiều nơi để ngắm cảnh, để cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước ta.
Ở phần tiếp theo,ta lại thấy cảnh sông Bạch Đằng qua lời miêu tả của nhân vật khách một bức tranh sinh động,giản dị:
“Bát ngát sóng kình muôn dặm,
Thướt tha đuôi trĩ một màu
Nước trời một sắc
Phong cảnh ba thu.”
Thông qua 1 loạt những từ láy gợi hình,kết hợp với việc nhắc đến những địa danh gắn liền với sông Bạch Đằng.Tg đã gợi cho người đọc vẻ đẹp hùng vĩ,bát ngát mênh mông của sông Bạch Đằng. Đồng thời tg cũng bày tỏ được cảm xúc của mình khi đứng trước 1 nhân chứng ls khi nhớ về quá khứ oanh liệt.
“Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”
Hơn thế nữa,ta còn thấy được hào khí của quân ta trong trận chiến Bạch Đằng thông qua lời kể của các bô lão thật hào hùng và lớn mạnh qua phần bình:
“Thuyền bè muôn đội,tinh kỳ phấp phới,
Hùng hổ sáu quân,giáo gươm sáng chói.”

“Khác nào như khi xưa:
Trận Xích Bích quân Tào Tháo tan tác tro bay,
Trận Hợp Phì giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi.”
Qua đó,ta thấy được những chiến công vĩ đại ấy được kể bằng giọng văn gấp gáp,khẩn trương, tái hiện được khí thế hào hùng,mang âm hưởng của bản anh hùng ca tràn đầy niềm tự hào. Lời kể của các bô lão đã nhấn mạnh được chiến thắng vẻ vang của quân dân ta và sự thất bại thảm hại của kẻ thù.
Từ đó,tg còn bàn về nguyên nhân của cuộc thắng lợi:
“Quả là:Trời đất cho nơi hiểm trở,
Cũng nhờ: Nhân tài giữ cuộc điện an.”
Theo các bô lão,thì nhân dân ta chiến thắng không chỉ nhờ địa thế hiểm trở mà còn có nhiều người tài.1 trong những nhân tài kiệt xuất thời bấy giờ là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Cuối cùng,tg kết thúc bài phú bằng 2 lời ca. Đầu tiên là lời của các bô lão :
“Sông Đằng 1 dải dài ghê,
Luồng to sóng lớn dồn về biển Đông.
Những người bất nghĩa tiêu vong,
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh.”
Những lời ca của bô lão cũng khẳng định được 1 triết lý vững chắc:người bất nghĩa sẽ bị diệt vong,còn anh hùng thì sẽ được lưu danh muôn thuở
Không những thế, đến đây,khách cũng nối tiếp mà ca ngợi rằng:
“Anh minh hai vị thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.


Giặc tan muôn thuở thăng bình.
Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao.”
Tg đã ca ngợi sự anh minh của vua Trần-là người có đức cao,luôn đặt quyền lợi của quốc gia lên trên quyền lợi của cá nhân.Như vậy,ta có thể thấy được nguyên nhân thắng lợi của quân ta phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố,trong đó vẫn không thể thiếu được những nhân tài và người lãnh đạo có đức cao luôn biết lo cho dân,cho nước…
Qua những hoài niệm về quá khứ, “Bạch Đằng giang phú” đã thể hiện lòng yêu nước,niềm tự hào dân tộc trước chiến công trên sông Bạch Đằng, đồng thời ca ngợi truyền thống anh hùng bất khuất,truyền thống đạo lý nhân nghĩa ngàn đời của dân tộc Việt Nam.Tác phẩm cũng chứa đựng tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc đề cao vai trò,vị trí của con người trong lịch sử.
Nhìn trở lại toàn bộ bài phú,ta thấy “Bạch Đằng giang phú”là đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại Việt Nam.Tác giả đã kể,miêu tả về cảnh sông Bạch Đằng,thiên nhiên 1 cách sinh động,chân thật,có tính trữ tình cao,xen lẫn với lời kể là những cảm xúc,những hoài niệm về quá khứ oanh liệt. Bài phú mang đậm chất sử thi hoành tráng sử dụng nhiều điển tích, điển cố chọn lọc,giàu sức gợi,những câu văn ngắn dài,phần cuối xen vào những câu thơ làm nên âm điệu hào hùng và rất trữ tình cho tác phẩm.Với nghệ thuật sắp xếp ngôn từ gây âm hưởng đa dạng, vừa khoan thai thoắt đã trở nên gấp gáp, rồi lại trở lại khoan thai, và cả bằng sự sinh động của nhịp điệu... mấy trăm năm qua bài phú đã chiếm lĩnh trọn vẹn tâm hồn người đọc.
Đây là tác phẩm không chỉ nổi tiếng thời Trần mà còn là 1 trong những bài phú viết bằng chữ Hán hay vào bậc nhất nước ta thời trung đại.Bài phú chứa chan lòng tự hào dt,vừa đọng 1 nỗi đau hoài cổ và có tư tưởng triết lý sâu sắc. Sau khi đọc xong tác phẩm,ta có thể khẳng định rằng “Phú sông Bạch Đằng” là đình cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại VN
----10A8----THÙY DƯƠNG

VÀI NÉT VỀ THỂ CÁO

- Cáo là thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết
- Trong thể cáo, có loại văn cáo thường ngày như chiếu sách của vua truyền xuống về một vấn đề nào đó, có loại văn đại cáo mang ý nghĩa một sự kiện trọng đại, có tính chất quốc gia.
- Cáo có thể được viết bằng văn xuôi hay văn vần nhưng phần nhiều được viết bằng văn biền ngẫu, không có vần hoặc có vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai vế đối nhau
- Cáo là thể văn hùng biện, do đó lời lẽ phải đanh thép, lí luận phải sắc bén, kết cấu phải chặt chẽ, mạch lạc. Tác phẩm tiêu biểu: "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi

Vắn tắt cuộc đời Nguyễn Trãi

- Nguyễn Trãi (1380-1442), hiệu là Ức Trai, quê gốc ở làng Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương), sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây). Gia đình bên nội cũng như bên ngoại đều có truyền thống yêu nước và văn hóa, văn học.
- Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, là nhân vật toàn tài hiếm có nhưng lại là người chịu những oan khiên thảm khốc dưới thời phong kiến.
- Ông là nhà thơ, nhà văn kiệt xuất, là danh nhân văn hóa thế giới, có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của văn hóa, văn học dân tộc.
- Tác phẩm tiêu biểu:
+ Văn chính luận: Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập…
+ Thơ : Quốc âm thi tập (Chữ Nôm), Ức Trai thi tập (Chữ Hán) …

11 thg 1, 2010

Ôn KTC đợt 3

NỘI DUNG VÀ CẤU TRÚC ĐỀ KIỂM TRA CHUNG ĐỢT 3 2009-2010

Môn Ngữ Văn 10

Ban nâng cao

Thuyết minh về tác giả (2đ) (gợi ý kiến thức tối thiểu cần đạt)
Trương Hán Siêu
Trương Hán Siêu (?-1354) tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh, Ninh Bình.
Ông là môn khách của Trần Hưng Đạo, tham gia kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, làm quan dưới bốn đời vua Trần (Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông). Các vua Trần rất kính trọng Trương Hán Siêu, thường gọi ông là “thầy”.
Do có tài đức nên khi mất ông được thờ ở Văn Miếu (Hà Nội)
Tác phẩm của ông hiện còn lại bốn bài thơ và ba bài văn,trong đó có “ Bạch Đằng giang phú “ là tác phẩm đặc sắc của VH trung đại Việt Nam.

Hoàng Đức Lương
- Hoàng Đức Lương (chưa rõ năm sinh năm mất), người làng Cửu Cao, huyện Văn Giang, nay thuộc tỉnh Hưng yên, sau chuyển đến làng Ngọ Kiều, Gia Lâm, Hà Nội.

- Ông đỗ tiến sĩ năm 1478, Ông sưu tầm, tuyển chọn tác phẩm của các tác giả từ thời Trần đến đầu thời Lê, biên soạn thành Trích diễm thi tập và hoàn thành Trích diễm thi tập năm 1497. Tập thơ gồm 6 quyển, phần cuối là bài tựa trình bày lí do ra đời và quá trình hình thành của cuốn Trích diễm thi tập.

Lí Bạch
Lí Bạch (701 – 762), tự là Thái Bạch, quê ở tỉnh Cam Túc. Ông lớn lên ở Tứ Xuyên, tính tình hào phóng, thích giao lưu bạn bè và ngao du thưởng ngọan phong cảnh.
Năm 25 tuổi LB rời quê hương đi tìm đường thực hiện hoài bão, ước mơ, những mong dân chúng được yên vui, “đất nước thanh bình”. Ông làm việc ở viện hàn lâm, do thất vọng triều đình, chỉ sau ba năm LB đã ra đi tiếp tục cuộc ngao du sơn thủy. Ông mất vì bệnh, để lại trên 1000 bài thơ.
- Ông là một nhà thơ lãng mạn lớn, có nhiều bài thơ nổi tiếng viết về đề tài thiên nhiên, chiến tranh, tình yêu, tình bạn. Âm hưởng chủ đạo trong thơ ông là tiếng nói yêu đời, lạc quan hào phóng dù bên cạnh vẫn còn một số tác phẩm có vài nét tiêu cực như tư tưởng hành lạc, cầu tiên học đạo.

- LB đã có những sáng tạo mới mẻ, táo bạo trong việc xây dựng hình ảnh, tứ thơ cũng như trong việc sử dụng thể thơ và ngôn từ.” Tại lầu Hoàng hạc tiễn Mạch Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” được xem là bài thơ hay nhất trong đề tài tiễn biệt của Ô.

d. Đỗ Phủ

- ĐP (712-770) quê ở huyện Củng, tỉnh Hà Nam, xuất thân trong gia đình có truyền thống nho học và thơ ca lâu đời. Ô là nhà thơ hiện thực lớn nhất không chỉ của thời Đường mà của cả lịch sử thơ ca cổ Trung Quốc. Thơ ông còn được gọi là thi sử.

- Ô bắt đầu làm thơ khi nhà Đường còn phồn vinh, song sáng tác chủ yếu trong và sau cuộc cuộc binh biến An Lộc Sơn lúc đất nước Trung Quốc chìm ngập trong cảnh loạn li. ĐP có làm vài chức quan nhỏ trong một thời gian ngắn. Trong mười một năm cuối đời Ô đưa gia đình đi lánh nạn khắp các vùng thuộc các tỉnh phía tây nam Trung Quốc (Cam Túc, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam)

- Nhà thơ qua đời trong đói rét bệnh tật trên một chiếc thuyền, để lại cho hậu thế khoảng 1500 bài thơ. Năm 1962 hội đồng hòa bình thế giới tổ chức kỉ niệm 1250 năm năm sinh của ông.

- Tp tiêu biểu: Binh xa hành, Lệ nhân hành, Tam biệt, Thu hứng…

Thuyết minh về thể loại văn học: (2đ)
Phú: Phú vốn là thể văn Trung Quốc, thịnh hành vào thời Hán, dùng lối văn có nhịp điệu, nhằm miêu tả, trình bày sự vật để biểu hiện tư tưởng tình cảm của tác giả. Phú có bốn loại chính: cổ phú, bài phú, luật phú và văn phú.
Cổ phú thường dùng hình thức “chủ - khách đối đáp”, không đòi hỏi đối, cuối bài thường được kết lại bằng thơ.

Bài phú là phú dùng hình thức biền văn, câu văn 4 chữ, 6 chữ, 8 chữ sóng đôi với nhau.

Luật phú là phú thời Đường, chú trọng đến đối; vần hạn chế, gò bó.

Văn phú là Phú thời Tống, tương đối tự do có dùng câu văn xuôi.
TPTB: Phú sông Bạch Đằng - Trương Hán Siêu
Phú núi Chí Linh - Nguyễn Trãi

Cáo:
-Là tên gọi thể văn có nguồn gốc từ Trung Quốc cổ xưa. Sau này vua chuyên dùng thể cáo để công bố những việc trọng đại của đất nước với muôn dân.
-Cáo thường được viết bằng văn biền ngẫu. không có vần hoặc có vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai vế đối nhau. Cũng như hịch, cáo là thể văn hùng biện, do đó lời lẽ phải đanh thép, lí luận phải sắc bén, kết cấu phải chặt chẽ, mạch lạc
-TPTB: Đại cáo ( bài cáo cổ xưa nhất của TQ)
Bình Ngô Đại Cáo (Nguyễn Trãi)

Tựa:
-là bài văn thường được đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lý, hội họa, âm nhạc… nhằm giới thiệu mục đích, nội dung quá trình hình thành và kết cấu của tác phẩm ấy.
- Bài tựa có thể do tác giả tự viết, cũng có thể do một ai đó vì yêu quý mến mộ tác phẩm mà viết. Cuối bài tựa thường ghi họ tên, chức tước của người viết và ngày tháng địa điểm làm bài tựa. Người ta gọi phần này là lạc khoản.
-Ngoài các nội dung trên, riêng bài Tựa “Trích diễm thi tập” còn cho biết về thời đại, về quan niệm văn chương của tác giả. Văn của thể tựa có tính chất thuyết minh, thường kết hợp với nghị luận và tự sự, có khi còn mang sắc thái trữ tình.

Thuyết minh về tác giả, tác phẩm văn học (6 điểm)
(gợi ý kiến thức tối thiểu cần đạt)

a. Tác gia Văn học

Đề tài: Thuyết minh về một tác gia văn học “Nguyễn Trãi”
Kết cấu văn bản theo trật tự logic trật tự thời gian.
Cấu trúc 3 phần
+ Phần 1: nêu vấn đề -> Giới thiệu chung và nhận định về giá trị và ảnh hưởng của Nguyễn Trãi

+ Phần 2: Giới thiệu chi tiết về Nguyễn Trãi

Sơ lược tiểu sử, cuộc đời.
sự nghiệp sáng tác thơ văn
Tác phẩm tiêu biểu

Nội dung tác phẩm

vị trí ảnh hưởng của tác gia đối với lịch sử văn học
+ Phần 3: Khẳng định đóng góp và vị trí của Nguyễn trãi đối với văn hoá Việt Nam.

Tác phẩm văn học

b. Tác phẩm văn học

Đề tài Thuyết minh một tác phẩm văn học: “Đại cáo bình Ngô”
Kết cấu văn bản theo trật tự logic và trật tự thời gian.
Vị trí tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác
Thể loại tác phẩm
Nhan đề
giới thiệu nội dung và nghệ thuật tác phẩm
Nêu luận đề chính nghĩa
Tố cáo tội ác quân Minh
Chủ đề
Nghệ thuật
Khẳng định giá trị của tác phẩm
vị trí của tác phẩm trong sự nghiệp sáng tác của tác giả.
Đánh giá chung.
Đề tài: Thuyết minh tác phẩm: “Bạch Đằng giang phú”
Kết cấu văn bản theo trật tự logic và trật tự thời gian.
Tác giả, xuất xứ
thể loại tác phẩm
giới thiệu nội dung và nghệ thuật tác phẩm
Thú du ngoan và cảm xúc của nhân vật “khách”
Những chiến công vĩ đại của quân ta trên sông Bạch Đằng và sự thất bại thảm hại của kẻ thù qua lời kể của các bô lão.
lời ca về sông Bạch Đằng.
Chủ đề
Đánh giá
Nội dung, nghệ thuật
Đánh giá chung

24 thg 10, 2009

Lý thuyết KTC đợt 2 0910

Lý thuyết:(2 điểm)
-Giá trị nội dung và nghệ thuật của ca dao, tục ngữ-
-Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Các em có thể trả lời các câu hỏi như:
1.Hiểu biết về giá trị nội dung và nghệ thuật của Ca dao-Dân ca VN
2. Cho biết vài nét về tục ngữ VN
3.Các quá trình của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ?
4. Nêu các nhân tố tham gia QT HĐGT bằng NN?
5. Các chức năng của HĐGT bằng NN?
.................

19 thg 10, 2009

Con cò mà đi ăn đêm...

Ca dao ra đời và tồn tại là để đáp ứng những nhu cầu bộc lộ tình cảm của nhân dân. Bên cạnh những bài ca về yêu thương tình nghĩa thì những lời than thở về cuộc đời đau khổ, đắng cay cũng là một đề tài rất tinh tế trong hệ thống ca dao dân ca Việt Nam. Đó là những lời than thân trách phận, tâm tư tình cảm của những con người lao động và họ đã mượn hình ảnh con cò để bày tỏ nỗi lòng của mình.
“ Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
_ Ông ơi, ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong,
Chớ xáo nước đục, đau lòng cò con. “
Hai câu thơ đầu của bài ca dao miêu tả sơ lược hình ảnh con cò _ một hình ảnh quen thuộc,thân thương của làng quê Việt Nam. Cánh cò từ ngàn năm đã nhập vào tâm hồn tuổi thơ qua lời ru êm ái và dòng sữa ngọt dịu của mẹ.
“ Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. “
Theo lẽ tự nhiên, cò thường bay đi kiếm ăn vào buổi sáng nhưng trong bài ca dao, con cò tội nghiệp này phải rơi vào nghịch cảnh trái với lẽ thường : cò phải đi kiếm ăn vào ban đêm lạnh lẽo, cô độc.
Cò không thể nhận biết được những khó khăn trước mắt, những tai nạn rủi ro mà mình sẽ gặp phải, mà vẫn chăm chỉ tìm kiếm thức ăn. Chẳng may “đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”, chú cò tội nghiệp gặp khó khăn. Những hình ảnh đó tượng trưng cho người nông dân Việt Nam hiền lành, chất phác, siêng năng,cần mẫn và phải trải qua biết bao vất vả, gieo neo.
“ _ Ông ơi, ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng. “
Ba từ “ông”, hai từ “tôi” được lặp đi lặp lại như nốt nhấn bi thảm của bài ca. Cò mong “ông” cứu vớt, đoái thương. Tiếng kêu cứu nghe rất tha thiết, chân thành, tội nghiệp. Cò cất tiếng thanh minh cho hoàn cảnh trớ trêu của mình, rơi xuống ao là do tai nạn không phải có ý định xấu. Nó cũng nhu6 nói đến những bất hạnh, hoạn nạn của nhà nông xưa đứng trước mọi thế lực thống trị và áp bức trong xã hội : sưu cao thuế nặng, ách thống trị nặng nề… . “Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng“ là lời phân trần, thanh minh : cò đi ăn đêm nhưng không phải kẻ bất lương mà cò hiền lành,lương thiện. Hình ảnh ẩn dụ, là biểu tượng về người nông dân “một nắng hai sương”. Đó là những con người hiền lành, cần cù, lam lũ, chịu thương chịu khó. Ôi thương thay những con người “chân lấm tay bùn” xưa trên mảnh đất giàu tình nghĩa Việt Nam.
Hai câu thơ tiếp theo, cò sợ người đời không tin mình nên đã nói :
“ Có xáo thì xáo nước trong,
Chớ xáo nước đục, đau lòng cò con. “
Hình ảnh ẩn dụ “nước trong”, “nước đục” đã gợi cho chúng ta biết cò là một người rất trọng danh dự. Nếu phải chết, cò muốn chết trong “nước trong” - chết trong danh dự chứ không phải là “nước đục” – một sự tượng trưng cho tai tiếng, nhục nhã và đầy hổ thẹn. Lời của cò còn thể hiện được những khao khát, những nỗi niềm khác nhau. Cò muốn được sống để có thể lo cho con, cho gia đình. Tiếng kêu của nó chân thành, gấp gáp giống như tiếng kêu của một sự cầu cứu. Dù sắp chết nhưng cò vẫn nghĩ đến lương tâm, trách nhiệm của mình đối với các thế hệ con cháu đời sau. Cò sợ đời sau xấu hổ, tuổi thân, phải mang tiếng xấu với đời. Qua lời cò, câu ca dao đã đề cập đến người bình dân Việt Nam rất trọng danh dự, luôn có trách nhiệm với thế hệ sau.
Bài ca dao ghi lại lời tâm sự của người bình dân xưa trong các hoàn cảnh sống. Lời tâm sự này bày tỏ thái độ phản kháng đầu tiên, phản ảnh ước mơ về một xã hội công bằng, người lao động được đối xử công bằng, tử tế hơn. Thông qua lời tâm sự này, bức tranh về hiện thực của cuộc sống ngày xưa được hiện ra một cách chân thật.
Qua bài này ta có dịp tìm hiểu rõ hơn về nghệ thuật của ca dao than thân. Nó mang âm điệu giọng thơ một nỗi buồn man mác, giàu chất nhạc và trữ tình. Dùng hình ảnh ẩn dụ, quen thuộc với người bình dân, diễn ý bằng cách miêu tả hình ảnh quen thuộc ấy trong tự nhiên.
Ca dao than thân đã phản ánh khát vọng của người Việt Nam xưa, ca dao còn khắc hoạ hình ảnh của người phụ nữ trong thời xưa : cam chịu, giàu đức hi sinh. Ca dao than thân có số lượng lớn và rất tiêu biểu cho kho tàng ca dao Việt Nam về nội dung cũng như nghệ thuật. Nó mang ý nghĩa phản kháng xã hội, phản kháng những điều ngang trái ẩn chứa rất sâu trong đó.
10a9-0910

Nội dung KTC đợt 2 09-10

1.Lý thuyết:(2 điểm)
-Giá trị nội dung và nghệ thuật của ca dao, thục ngữ
-Hoạt động giao tiếp bằng nôn ngữ
2.Nghị luận xã hội (3 điểm)
Suy nghĩ về các câu tục ngữ sau:
-Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ
-Kiến tha lâu cũng đầy tổ
-Tình thương quán cũng là nhà
Lều tranh có nghĩa hơn tòa ngói cao
3.Văn cảm nhận: (5 điểm)
-Những câu hát yêu thương tình nghĩa, những câu hát than thân có trong chương Văn 10NC

10 thg 10, 2009

Ý nghĩa một số câu tục ngữ quen thuộc

Các em hãy giải thích ý nghĩa những câu tục ngữ:
1. Các câu có trong SGK Ngữ Văn 10 ( Nâng cao) và (Chuẩn)
2.Các câu tực ngữ thương gặp trong cuộc sống...
VD:
-"Uống nước nhớ nguồn"
-"Tình ngay lý gian"
-"Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng"
-Không thầy đố mày làm nên
-Học thầy không tày học bạn
...
Và những câu tục ngữ khác nữa nhé

KTC2-Bài số 3-Văn cảm nhận-CD yêu thương tình nghĩa

1.Khát vọng yêu thương và được yêu thương trong các bài CD yêu thương trong sách GK Ngữ Văn 10 NC.
2.Lối sống đậm tình nặng nghĩa của người VN qua 1 số bài CD có trong SGK Văn 10NC.
3.Cảm nhận về bài ca dao số 1-2-3 trong"CD yêu thương tình nghĩa"
4.Cảm nhận về bài CD số 4 trong "CD yêu thương tình nghĩa"

Bài viết số 3-Văn biểu cảm-CD than thân

1.Cảm nhận về bài CD than thân số 1-2-3
2.Lời than thân của một cô gái đang yêu trong bài CD số 4 "CD than thân"
3.Từ bài ca dao bắt đầu bằng câu "Con cò́ mà đi ăn đêm", hãy trình bày suy nghĩ về hình ảnh người phụ nữ VN xưa và nay.

14 thg 9, 2009

Nội dung KTC đợt 1 09-10

I.Kiến thức VH

1.VHDGVN

II. Tóm tắt
1.Truyền thuyết "ADV và MC-TT"
2.Sử thi "Đăm San" của dân tộc Ê đê
3.Sử thi "Ulixơ" của Homerơ
4.Truyện cổ tích "Tấm Cám"
III.Văn tự sự :Kể lại
1.ĐT "Chiến thắng Mtao Mxây"
2.ĐT "Ulixơ trở về"
3.ĐT "Rama buộc tội"
4.Truyền thuyết "ADV và MC-TT"
5.Cổ tích "Tấm Cám"