Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Trãi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Trãi. Hiển thị tất cả bài đăng

23 thg 1, 2011

Thuyết minh" Đại cáo bình Ngô"

Trường: Võ Thị Sáu
Lớp: 10a8
Tên: Phạm Trần Nguyệt Minh STT: 19


Đề bài: Thuyết minh về bài “ Đại cáo bình ngô” của Nguyễn Trãi


Bài làm

Có thể nói, Nguyễn Trãi là một bậc anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới. Đồng thời, Nguyễn Trãi còn là nhà văn trữ tình sâu sắc, nhà văn chính luận lỗi lạc. Và, nhắc đến văn chính luận Nguyễn Trãi, ta không thể không nhắc đến bài “ Đại cáo bình Ngô “ mang những nét rất đặc trưng, cơ bản của thể cáo.
Như chúng ta đã biết: năm 1427 đánh dấu sự kiện trọng đại quân ta đại thắng chống lại giặc Minh xâm lược. Thừa lệnh Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã sáng tác ra “ Đại cáo bình Ngô”- được coi là bản tuyên ngôn độc lập, một áng “ thiên cổ hùng văn” của dân tộc ta. “ Bình Ngô đại cáo” đã nói lên phần nào nỗi lòng của Nguyễn Trãi cũng như của cả dân tộc Việt Nam ta: căm thù, phẫn uất trước kẻ thù xâm lược đồng thời thể hiện niềm tự hào về chiến công to lớn của thời đại. “ Đại cáo bình Ngô” được viết theo thể cáo, gồm bốn phần với những ý nghĩa sâu sắc khác nhau.
Chúng ta hãy cùng đến với đoạn mở của” Bình Ngô đại cáo”. Ở đoạn này, tác giả đã khẳng định luận đề chính nghĩa ngay ở những câu đầu tiên:
“ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Tác giả khẳng định nghĩa quân Lam Sơn chiến đấu chống giặc Minh là để cuộc sống yên bình, là diệt trừ những thế lực tham tàn, bạo ngược, đó chính là việc làm danh nghĩa. Sau đó, Nguyễn Trãi còn khẳng định nước ta là một nước độc lập có chủ quyền, có lãnh thổ, phong tục, triều đại riêng…. Ở đây, giọng thơ nghe sao tự hào quá đỗi. Phải chăng, đây chính là những dòng thơ viết từ chính tiếng lòng hạnh phúc của Nguyễn Trãi, từ chính tấm lòng yêu quê hương, đất nước cao đẹp:
“ Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”
Bằng những lí lẽ xác đáng, lập luận chặt chẽ, Nguyễn Trãi đã khẳng định nghĩa quân Lam Sơn chống lại giặc Minh là việc làm nhân nghĩa, hợp với lòng dân, hợp với quy luật là chính nghĩa. Và lẽ dĩ nhiên, những việc làm cao quý đó chỉ có thể xuất phát từ một lòng yêu nước, thương dân cao cả.
Vạch rõ, tố cáo những tội ác của giặc Minh chính là nội dung chính của đoạn
tiếp theo. Ở đây, Nguyễn Trãi đã liệt kê ra một loạt tội ác của giặc Minh. Chúng không chỉ có âm mưu xâm lược nước ta mà còn thực hiện nhiều chính sách thuế má, phuaphen nặng nề, vơ vét sản vật quý hiếm, diệt xản xuất, sự sống, tàn sát dã man dân ta, làm cho dân ta lâm vào cảnh” khốn cùng”.
“ Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”
Cuối cùng, sau khi liệt kê một loạt tội ác của giặc Minh, tác giả đã bộc lộ thái độ căm thù, phẫn uất đồng thời kết tội chúng:
“ Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi
Lẽ nào trời đất dung tha
Ai bảo thần nhân chịu được ? “
Tác giả đã có cách lập luận chặt chẽ, lời văn đanh thép, sử dụng những hình ảnh rất thực và có sức khái quát cao, giọng văn linh hoạt để kết tội giặc Minh. Có thể nói, phần thứ hai là một bảng cáo trạng đanh thép, tố cáo tội ác của giặc Minh là thế lực bạo tàn cần phải diệt trừ.
Đoạn tiếp theo kể về quá trình nghĩa quân Lam Sơn chiến đấu chống lại giặc Minh bạo tàn. Tả về những ngày đầu kháng chiến đầy gian khổ, tác giả đã lấy đó làm nền để lột tả hết những chiến thắng oanh liệt của nhân dân ta:
“ Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đương mạnh.
Lại ngặt vì :
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu. “
Trong lúc thế giặc mạnh thì quân ta binh lực yếu kém, có khi lương thực cạn kiệt, có khi quân ta hiếm hoi nhân tài. Thế nhưng, nhờ tài lãnh đạo của Lê Lợi, nghĩa quân Lam Sơn đã đoàn kết một lòng, vượt qua khó khăn tạo nên sức mạnh to lớn chiến thắng kẻ địch. Đó là do người lãnh đạo có quyết tâm cao độ, có những chiến lược, chiến thuật phù hợp để nâng cao sức mạnh của tình đoàn kết của nhân dân, chú trọng mưu cơ hơn binh lực. Có thể nói, hình tượng của Lê Lợi chính là hình tượng người anh hùng áo vải sinh động và toàn diện.
Với giọng điệu hào hùng, tác giả đã kể về ba trận đánh: Trận Bồ Đằng-tro bay ; Trận Ninh Kiều-tết động ; Trận Chi Lăng-Mã An đến Xương Giang. Trong một loạt những cặp câu biền ngẫu, lối viết thậm xưng, nhạc điệu dồn dập mạnh mẽ mang đậm chất anh hùng ca, tác giả đã nhấn mạnh được sự thất bại thảm hại của giặc Minh và khí thế hào hùng của quân ta.
Đoạn cuối, tác giả đã tuyên bố chiến thắng, khẳng định sự nghiệp chiến đấu chính nghĩa đã thắng lợi hoàn toàn:
“ Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới “
Bằng giọng văn nhẹ nhàng khoan thai, tác giả đã tuyên bố nền hòa bình của dân tộc ta đã được lặp lại. Đồng thời, tác giả cũng rút ra bài học lịch sử và thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước.
Với nghệ thuật chính luận tài tình, cảm hứng trữ tình sâu sắc, “ Đại cáo bình Ngô “ đã có sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và yếu tố văn chương, được xem là áng “thiên cổ hùng văn” của dân tộc ta. Ca ngợi sức mạnh của truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, tinh thần tự lập tự cường nêu bật sức mạnh của nhân dân ta, mở ra kỷ nguyên mới-kỉ nguyên hòa bình, độc lập tự do cho lịch sử dân tộc chính là những ý nghĩa sâu sắc mà “Bình Ngô đại cáo” mang lại.
“Đại cáo bình Ngô” tiêu biểu cho thể loại cáo, tiêu biểu cho thể loại văn chính luận của Nguyễn Trãi. Bài cáo được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc ta, thể hiện được khát vọng tự chủ độc lập, yêu chuộng hòa bình.

21 thg 1, 2011

Giới thiệu về "Đại cáo bình Ngô" của Nguyễn Trãi

NGUYỄN THUỲ DƯƠNG  LỚP 10A8

Thuyết minh về tác phẩm "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi

BÀI LÀM
Trong dòng văn học ca ngợi truyền thống yêu nước xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc tới các tác phẩm của Nguyễn Trãi , một anh hùng dân tộc, một con người có nhân cách lớn, nhà tư tưởng vĩ đại được suy tôn là danh nhân vha8n hóa của nhân loại. Trong đó, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được đánh giá là áng “thiên cổ hùng văn”, luôn được nhiều thế hệ người Việt luôn yêu thích, tự hào.
"Bình Ngô đại cáo" được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết vào khoảng đầu năm 1428 nhằm tổng kết cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược, kể về quá trình kháng chiến gian khổ, hi sinh nhưng thắng lợi vẻ vang, ngợi ca lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa và tài trí thao lược của quân ta. Đây là tác phẩm tiêu biểu cho thể loại “cáo”- một thể loại văn chính luận tiêu biểu của văn học Trung đại VN. Nhan đề tác phẩm có‎ ý nghĩa là bài cáo trọng đại tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô(chỉ giặc Minh xâm lược).Bài cáo gồm bốn phần.
Phần đầu tiên, tác giả nêu cao luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến .Tác giả đã khẳng định nghĩa quân Lam Sơn chiến đấu chống giặc Minh là để nhân dân có cuộc sống yên bình, ấm no, là để diệt trừ thế lực tham tàn,bạo ngược và đó là việc làm nhân nghĩa…
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Sau đó, NT còn khẳng định,nước ta còn là 1 nước độc lập,có chủ quyền,lãnh thổ,phong tục và triều đại riêng:
“Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”.
Bằng những lý lẽ chặt chẽ,cho thấy tg đã khẳng định nghĩa quân LS chống lại giặc Minh là việc làm nhân nghĩa,hợp với lòng dân,hợp với quy luật, đó là chính nghĩa,việc làm đó xuất phát từ tư tưởng yêu nước, thương dân .
Phần thứ hai của bài cáo, tác giả đã vạch trần, tố cáo tội ác dã man của giặc Minh xâm lược. Nhắc đến g.Minh chúng ta không thể quên được 1 số câu chất chứa lòng căm phẫn:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”

“Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế
Gây binh kết oán, trải hai mươi năm”.
Tg đã liệt kê ra 1 loạt tội ác của g.Minh,chúng không chỉ có âm mưu xâm lược nước ta, mà còn thực hiện nhiều chính sách thuế má phu phen nặng nề,vơ vét sản vật quý hiếm,diệt sản xuất,sự sống,tàn sát dã man…. Dân ta phải lâm vào cảnh khốn cùng.Từ đó,tg đã kết tội giặc Minh
“Độc ác thay,trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay,nước Đông hải không rửa sạch mùi”
Hơn thế nữa,tg còn bày tỏ thái độ phẫn uất trước những tội ác đó…
“Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được?”
Bằng cách lập luận chặt chẽ,lời văn đanh thép và những hình ảnh rất thực có tính khái quát cao,giọng văn linh hoạt.Có thể nói, đoạn 2 này là 1 bảng cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác của g.Minh. Đó chính là thế lực bạo tàn cần phải diệt trừ.
Tiếp đó,ta không thể không tự hào trước quá trình chiến đấu gian khổ và tất thắng của cuộc khởi nghĩa qua đoạn 3. Đầu tiên,tg đã kể về buổi đầu khởi nghĩa,quân ta đã gặp rất nhiều khó khăn:
“Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đương mạnh.”
Hay trong lúc thế giặc mạnh thì quân ta binh lực yếu kém,có khi lương thực cạn kiệt,quân ta hiếm hoi nhân tài...
“Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu.”
Thế nhưng,nhờ tài lãnh đạo của LL,nghĩa quân LS đã đoàn kết 1 lòng,vượt qua khó khăn,tạo được sức mạnh. Đó là người lãnh đạo có quyết tâm cao độ,có chiến lược,chiến thuật phù hợp, đề cao sức mạnh của sự đoàn kết, chú trọng mưu cơ hơn binh lược.
“Thế trận xuất kì,lấy yếu chống mạnh;
Dùng quân mai phục,lấy ít địch nhiều…”
Như vậy,người đọc đã cảm nhận được hình tượng LL đó là 1 người có xuất thân dân dã,nhưng có lòng yêu nước sâu sắc,hết lòng lo lắng tận tâm,suy tính đại sự và đã tìm ra cách chiến thắng g.Minh,tập hợp được sức mạnh của nd để làm nên chiến thắng.Có thể nói, đoạn này đã khắc họa được hình tượng người anh húng áo vải 1 cách sinh động,toàn diện.
Sau đó,tg đã kể về những chiến thắng oanh liệt của dân ta qua 3 trận đánh...
Thứ nhất,là trận Bồ Đằng_Trà Lân:
“Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân,trúc chẻ tro bay.”
Thứ hai, là trận Ninh Kiều_Tốt Động:
“Ninh Kiều máu chảy thành sông,tanh trôi vạn dặm;
Tốt Động thay chất đầy nội,nhơ để ngàn năm.”
Cuối cùng là trận Chi Lăng_Mã An cho đến Xương Giang:
“Ngày 18,trận Chi Lăng,Liễu Thăng thất thế,
Ngày 20,trận Mã An,Liễu Thăng cụt đầu,”
Trong 1 loạt câu văn biền ngãu đó, đã thể hiện khí thế khí thế quân ta rõ nhất qua câu:
“Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước,nước sông phải cạn.”
Tuy nhiên,ta vẫn thể hiện tinh thần nhân đạo với kẻ thù. Đó là tư tưởng nhân nghĩa đã mang 1 tầm cao mới:
“Tướng giặc bị cầm tù,như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng;
Thần Vũ chẳng giết hại,thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh.”
Thông qua lối viết liệt kê,hình tượng phong phú đa dạng,dùng nhiều động từ mạnh,các tính từ chỉ mức độ tối đa,lối viết thậm xưng,nhạc điệu dồn dập mạnh mẽ,mang đậm chất anh hùng ca.Trong phần kể về quá trình kháng chiến của nghĩa quân Lam Sơn , tác giả đã dùng lối viết tương phản về lực lượng của ta và địch.Quá đó, tg đã bày tỏ được niềm tự hào của hãnh diện về những chiến thắng của quân ta và nêu bật sự thất bại thảm hại của quân thù.
Cuối cùng,tg đã tuyên bố chiến thắng và khẳng định sự nghiệp chính nghĩa của quân ta đã hoàn toàn thắng lợi.Đến đây,giọng văn của NT đã nhẹ nhàng hơn,khoan thai .Tg đã tuyên bố nền hoà bình của dt ta đã được lập lại, đồng thời cũng rút ra được bài học ls &thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước.
“Xã tắc từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới.”

“Xa gần bá cáo
Ai nấy đều hay”
Với nghệ thuật chính luận tài tình,cảm hứng trữ tình sâu sắc ĐCBN có sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố chính luận và yếu tố văn chương được xem là áng “thiên cổ hùng văn” của dt ta.Hơn thế nữa, “ĐCBN”-NT là bản anh hùng ca,ca ngợi sức mạnh của truyền thống yêu nước,tinh thần độc lập nhân nghĩa tự cường,nêu bật sức mạnh của dân ta trong cuộc khởi nghĩa, đập tan cuộc xâm lăng phi lăng phi nghĩa của g.Minh,mở ra 1 kỷ nguyên mới của độc lập tự do,hoà bình cho ls dt.
Sau khi đọc xong bài cáo,ta thấy rõ “ĐCBN” không chỉ là tác phẩm tiêu biểu cho thể loại văn chính luận của NT mà ta còn hiểu nhận thực rõ chính lòng yêu nước và tinh thần nhân nghĩa là hai yếu tố quyết định đưa cuộc kháng chiến đến thành công, mở ra kỉ nguyên mới cho dân tộc. Chính ví thế bài cáo được coi là bản tuyên ngôn độc lập t2 của dt ta, thể hiện được khát vọng độc lập tự chủ và yêu chuộng hoà bình của toàn dân ta.

19 thg 1, 2011

Vắn tắt về thơ ca của Nguyễn Trãi

-NT là nhà thơ trữ tình sâu sắc      
-TPTB: Quốc âm thi tập (chữ Nôm) , Ức Trai thi tập (chữ Hán)…
-Thơ NT thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu chuộng hòa bình
+Thơ chữ Hán của NT: tinh tế, sâu sắc, có tính triết lí…
+Thơ chữ Nôm: NT là nhà thơ khai sáng văn học Tiếng Việt
- NT đã đem đến cho nền văn học dân tộc thơ Đường luật viết bằng chữ Nôm, góp phần làm cho Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ giàu và đẹp.      

Vắn tắt cuộc đời Nguyễn Trãi

- Nguyễn Trãi (1380-1442), hiệu là Ức Trai, quê gốc ở làng Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương), sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây). Gia đình bên nội cũng như bên ngoại đều có truyền thống yêu nước và văn hóa, văn học.
- Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, là nhân vật toàn tài hiếm có nhưng lại là người chịu những oan khiên thảm khốc dưới thời phong kiến.
- Ông là nhà thơ, nhà văn kiệt xuất, là danh nhân văn hóa thế giới, có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của văn hóa, văn học dân tộc.
- Tác phẩm tiêu biểu:
+ Văn chính luận: Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập…
+ Thơ : Quốc âm thi tập (Chữ Nôm), Ức Trai thi tập (Chữ Hán) …

9 thg 12, 2010

Cảnh ngày hè- Bức tranh tràn đầy tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu đời, yêu dân, yêu nước

Họ và tên: Đinh Quang Minh
Lớp: 10A8



Nguyễn Trãi, vị anh hùng tên tuổi lẫy lừng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, là một con người tài năng kiệt xuất. Ông không chỉ để lại di sản phong phú về các mặt chính trị, quân sự, ngoại giao mà còn khẳng định tài năng của mình qua sự nghiệp văn chương đồ sộ. Có thể nói, ông là người khởi đầu cho nền thơ cổ điển bằng tiếng Việt qua tập thơ Nôm “Quốc âm thi tập” nổi tiếng. Bài “Cảnh ngày hè” là một bài trong số đó, nơi mà tác giả đã gửi gắm mọi tư tưởng, tình cảm yêu đời, yêu thiên nhiên và ước vọng cao đẹp của mình:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường,
Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.
Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.”

Bài thơ được sáng tác vào khoảng thời gian Nguyễn Trãi về ở ẩn ở Côn Sơn. Ông tạm thời xa lánh chốn kinh đô tấp nập để về với thiên nhiên trong trẻo, an lành nơi dân dã; để rồi ghi lại cảm xúc phấn chấn của mình trước cảnh vật mùa hè tưng bừng sức sống và kín đáo gửi gắm khát vọng dân giàu, nước mạnh vào bài thơ

Mở đầu bài thơ là vẻ đẹp rực rỡ của bức tranh thiên nhiên ngày hè:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường,
Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”

Câu lục ngôn mở đầu giới thiệu hoàn cảnh sống và tâm trạng của nhà thơ lúc bấy giờ:

“Rồi hóng mát thuở ngày trường”

Về hình thức, đây là sự phá cách, cách tân táo bạo trong thơ thất ngôn bát cú Đường luật: Phần đề có hai câu, nay chỉ còn một câu, lại là câu lục ngôn. Bên cạnh đó, nhịp thơ 1/2/3 chậm rãi phản ánh tư thế ung dung, tự tại vốn có của tác giả. Chữ “Rỗi” tách riêng thành một nhịp thể hiện sự nhàn nhã của ông, một người luôn luôn bận rộn với việc nước, việc dân. Đây là lúc ông được sống ung dung, được thỏa ước nguyện hòa mình với thiên nhiên mà ông hằng mơ ước. Tác giả ngồi “hóng mát” trong cảnh “ngày trường”. “Ngày trường” là ngày dài. Đây là cảm giác về thời gian của người sống trong cảnh nhàn rỗi, thấy ngày dường như dài ra. Với con người bận rộn, luôn muốn cống hiến như Nguyễn Trãi thì cảm giác ấy càng thể hiện rõ hơn hết. Ông rơi vào hoàn cảnh phải “hóng mát” hết ngày này qua ngày khác trong khi đất nước đang gặp khó khăn, rơi vào tâm trạng “bất đắc chí”. Một nụ cười chua chát của Nguyễn Trãi như hiện lên đằng sau câu thơ ấy... Việc đặt thanh bằng ở cuối câu là một sự cách tân mới khiến câu thơ nghe như tiếng thở dài nhưng không giống lời than thở, đồng thời thể hiện tâm hồn luôn rộng mở để đón nhận thiên nhiên và cuộc sống xung quanh của nhà thơ

Dường như, chỉ có vẻ đẹp hồn nhiên, vô tư của cảnh vật mới có thể tạm xua đi nỗi phiền muộn vương vít trong tâm hồn tác giả. Ông mở lòng với thiên nhiên:

“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”

Thiên nhiên dưới nét bút của Nguyễn Trãi đã vẽ nên một bức tranh quê tươi khỏe, hài hòa và tràn đầy sức sống. Cây hòe với “tán rợp giương”, xanh um, trong khi cây lựu nở đầy những bông hoa “phun thức đỏ” và sen hồng thì “tiễn mùi hương”. Sức sống trong cây đang “đùn đùn” dâng lên cành, lên hoa, lên lá. Cây tỏa bóng rợp xuống mặt sân, tỏa luôn bóng mát vào cả tâm hồn thi sĩ.. Với cách miêu tả từ gần đến xa bằng nhiều giác quan, màu sắc sinh động, hài hòa, kết hợp với các động từ mạnh, từ láy, bốn câu thơ đầu đã tái hiện được bức tranh thiên nhiêu mùa hè sinh động, căng tràn nhựa sống, đồng thời thể hiện được tình yêu thiên nhiên của nhà thơ
Nếu bốn câu thơ trên, Nguyễn Trãi chỉ miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên của vùng quê thôn dã thì ở hai câu thơ tiếp theo là vẻ đẹp thanh bình của bức tranh cuộc sống:

“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”

Từ tượng thanh “lao xao” đặt trước hình ảnh “chợ cá” làm nổi bật không khí nhộn nhịp của “làng ngư phủ”, đó là tiếng trao qua đổi lại, ồn ã tiếng nói tiếng cười. Hay tiếng ve kêu “dắng dỏi” như tiếng đàn bỗng vang lên trong “lầu tịch dương” báo hiệu chấm dứt ngày hè ở vùng quê. Tất cả những âm thanh ấy hòa lẫn vào nhau tạo nên bức tranh âm thanh sinh động, náo nhiệt, nó là hơi hướng của cuộc sống lao động cần cù, chân chất. Cảnh vật, thiên nhiên vào cuối ngày thật yên vui, thanh bình, nhưng cuộc sống thì không dừng lại...

Cỏ cây, hoa lá, con người đầy sức sống khơi dậy trong lòng nhà thơ cảm xúc nhẹ nhàng, sâu lắng. Đó là tấm lòng ưu ái của ông đối với dân với nước, một tình yêu cuộc sống, yêu con người:

“Dẽ có ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương”

“Ngu cầm”, điển tích về cây đàn của thời vua Nghêu, vua Thuấn, là thời đại thái bình thịnh trị trong lịch sử Trung Hoa cổ, được tác giả mượn để nói lên ước muốn của ông: “dẽ có” được trong tay cây đàn ấy, đàn một tiếng để dân chúng đều được giàu có, no đủ. Ẩn sau khát vọng ấy là sự trách móc nhẹ nhàng mà nghiêm khắc bọn quan thần tham bạo ở triều đình đương thần không còn nghĩ đến dân, đến nước. Vậy mới thấy, dù sống trong tâm trạng “bất đắc chí”, Nguyễn Trãi vẫn cảm nhận được cuộc sống thường ngày, gắn bó với thực tế, không nguôi ngoai nỗi niềm dân nước. Ông luôn khát khao được đem tài trí để thực hành tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân. Câu thơ sáu chữ ngắn gọn, súc tích, nhịp 3/3 đã tạo âm hưởng mạnh mẽ, thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài thơ.

Việt hóa thơ Đường luật, sáng tạo thơ thất ngôn xen lục ngôn, vận dụng những hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm thanh vào cảnh vật thiên nhiên và cuộc sống con người, bài thơ đã vẽ nên một bức tranh mùa hè vui tươi, đầy sức sống, qua đó nhà thơ gửi gắm lòng yêu mến quê hương đất nước, hoài bão giúp nhân dân xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc

“Cảnh ngày hè” không chỉ tiêu biểu cho “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi mà còn là một trong những bông hoa chữ Nôm của nền văn học Việt Nam. Bằng cách sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật độc đáo, bài thơ đã làm toát lên vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước cũng như vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi, thể hiện rõ tư tưởng yêu nước thương dân và tinh thần sống có trách nhiệm với dân với nước

Cảnh ngày hè-Nguyễn Trãi

TÊN: LÂM HÙYNH NHƯ
LỚP: 10A8
NĂM HỌC: 2010- 2011
ĐỀ: CẢNH NGÀY HÈ
Nguyễn Trãi là một nhà thơ kiệt xuất của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, một người anh hùng với lí tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân
Ông để lại cho đời sau nhiều tác phẩm có giá trị lớn.Nếu như “Bình Ngô đại cáo” của ông mang đầy nhiệt huyết, lòng tự tôn dân tộc thì bài thơ “Cảnh ngày hè” là một bức tranh về vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi.Bài thơ mang thể lọai thất ngôn xen lục ngôn_ 1 sự sáng tạo của riêng Nguyễn Trãi.Qua bài thơ ta cảm nhận dc tư tưởng, tình cảm yêu đời, yêu thiên nhiên và ước vọng cao đẹp cũa Nguyễn Trãi.
‘’Rồi hóng mát thưở ngày trường,
……..
Dân giàu đủ khắp đòi phương.’’
Bài thơ dc sáng tác khi Nguyễn Trãi về quê ở ẩn vì k dc vua tin tưởng
trọng dụng nữa.Đây là một hòan cảnh bất đắc chí, tác giả k muốn sống như thế nhưng vẫn cứ phải sống.Mở đầu bài thơ:
‘’Rồi hóng mát thưở ngày trường,’’
Câu thơ 6 chữ nhưng giới thiệu khá đầy đủ về thời gian, hòan cảnh, tâm trạng của nhà thơ.Qua từ ‘’rồi’’, ‘’ ngày trường’’ ta thấy thật lạ, một người có tài đức như ông ,1 người luôn muốn đóng góp sức mình cho đất nước thêm giàu mạnh ,phát triển thế mà giờ đây lại phải sống nhàn rỗi trong những ngày dài như thế.Quả là bất công.Câu thơ mang nhịp 1/2/3 kết hợp với thanh bằng cuối câu cho ta cảm giác nghe như tiếng thở dài nhưg không giống lới than thở.Qua câu thơ đầu tiên ta thấy tâm hồn nhà thơ luôn rộng mở để đón nhận thiên nhiên và cuộc sống xung quanh.
Ba câu thơ tiếp theo cho ta cảm nhận dc vẻ đẹp rực rỡ của bức tranh thiên nhiên tràn đầy sức sống:
‘’Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hương còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.’’
Bức tranh cảnh ngày hè được tác giả vẽ lên thật rực rỡ và tươi đẹp với nhiều màu sắc. Đó là màu xanh của cây hòe, màu đỏ của hoa lựu, màu hồng của hoa sen, màu vàng lung linh của ánh nắng chiều. Mọi vật sinh sôi, nảy nở, vươn dậy 1 cách nhanh chóng Tất cả hòa quyện lại với nhau tạo nên cảnh vật đặc trưng của mùa hè.Nhịp thơ ¾ công với từ cổ ‘’ thức’’, từ ‘’tiễn’’, động từ mạnh ‘’phun’’góp phần làm cảnh vật nổi bật hơn.Cách miêu tả từ gần đến xa bằng nhiều giác quan, màu sắc sinh động, hài hòa kết hợp với các động từ mạnh, từ láy để tái hiện bức tranh thiên nhiên mùa hè sinh độg, đáng yêu,căng tràn nhựa sống,dường như vạn vật đều khoe sắc, tỏa hương.Chắc hẳn phải là 1 người yêu thiên nhiên, có tâm hồn tinh tế nhạy cảm thì Nguyễn Trãi mới viết dc những vần thơ sinh đông và sâu sắc đến như vậy.
Hai câu thơ tiếp theo giúp ta hình dung dc vẻ đẹp thanh bình của bức tranh cuộc sống con người:
‘’Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.’’
. Không chỉ cảm nhận bằng thị giác, tác giả còn cảm nhận cảnh vật bằng thính giác Ông thấy âm thanh “lao xao” của làng chài, “dắng dỏi” của tiếng ve. Bức tranh cảnh ngày hè đã trở nên sinh động hơn, đặc sắc hơn với âm thanh. Mặc dù khung cảnh mà tác giả miêu tả là cuối ngày, khi mặt trời lặn nhưng mọi vật vẫn tràn đầy sức sống với những từ láy “lao xao”, “dắng dỏi”. Ta thấy dc cảnh vật thật yên vui, thanh bình.Phải là 1 ng` thiết tha yêu cuộc sống, gắn bó với cuộc sống, Nguyễn Trãi mới cảm nhận dc những âm thanh đời thường như vậy.
Hai câu thơ cuối thể hiện niềm khát khao cao đẹp của tác giả muốn cống hiến sức mình cho quê hương, đất nước:
‘’Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.’’
Câu cuối 6 chữ ngắn gọn, nhịp 3/3 âm hưởng mạnh mẽ thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài.Đáng lẽ sau khi đánh thắng quân Minh thì phải bắt tay vào việc xây dựng cuộc sống ấm no, hp’ cho nhân dân nhưng Lê Lợi lại nghe lời xu nịnh của bọn gian thần mà nghi ngờ những vị quan đã có công giúp mình ngày xưa.Dù k dc trọng dụng nhưng Nguyễn Trãi vẫn luôn đau đầu vì dân, dù ở ẩn nhưng ông vẫn luôn nghĩ cho dân cho nước. Chính vì vậy, ông ước mong mình có cây đàn của vua Ngu Thuấn. Với cây đàn đó, Nguyễn Trãi có thể mang tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và đất nước.Trong tâm trí của ông luôn có khát khao đem tài trí của mình đễ thực hành tư tưởng nhân nghĩa yêu nước thương dân.
Qua bức tranh mùa hè vui tươi tràn đầy sức sống tác giả đã gởi gắm lòng yêu mến quê hương đất nước, hòai bão giúp dân xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc.Qua bài thơ vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trã dc bộc lộ khá sâu sắc và chân thực.Bài thơ thể hiện rõ tư tưởng yêu nước, thương dân, tinh thần sống có trách nhiệm với quê hương,đất nước của Nguyễn Trãi.Nghệ thuật của bài thơ cũng rất sáng tạo. ông đã việt hóa thơ Đường luật, sáng tạo thơ thất ngôn xen lục ngôn.Vận dụng hình ảnh, màu sắc,đường nét, âm thanh của cảnh vật thiên nhiênvà cuộc sống con người.Hệ thống ngôn ngữ giản dị,tinh tế xen lẫn từ Hán và điển tích.Qua tất cả ta thấy Nguễn Trãi là ng` đã có công khai sáng văn học tiếng việt.
Cảnh ngày hè không chỉ là bài thơ tiêu biếu cho Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi mà cò là 1 trong những bông hoa chữ Nôm đẹp nhất trng văn học Việt Nam. . Tư tưởng của Nguyễn Trãi như một bài học gửi gắm cho thế hệ trẻ về lòng yêu nước, ước mong cống hiến cho đất nước.

"Cảnh ngày hè"- Bông hoa chữ Nôm đầu mùa tuyệt đẹp

Trường: Võ Thị Sáu
Lớp: 10a8
Họ và tên: Phạm Trần Nguyệt Minh STT: 19


Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi

-------------------------------------
Bài làm
Nguyễn Trãi là một nhà thơ kiệt xuất của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị lớn. Nếu như “ Bình ngô đại cáo” của ông mang đầy nhiệt huyết, lòng tự tôn dân tộc thì “ Cảnh ngày hè” là một bức tranh về vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi. Bài thơ đã thể hiện tư tưởng, tình cảm yêu đời, yêu thiên nhiên và ước vọng cao đẹp của nhà thơ.
“ Rồi hóng mát thuở ngày trường
………………………………
Dân giàu đủ khắp đòi phương “

Mở đầu, bài thơ đến với ta với những hình ảnh về thiên nhiên rực rỡ.
“ Rồi hóng mát thuở ngày trường
Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương “
Từ “ rồi” mở đầu câu thơ phải chăng nói đến tâm trạng “ bất đắc chí” của nhà thơ. Câu thơ đầu chỉ vỏn vẹn với sáu từ nhưng đã khá đầy đủ về thời gian, hoàn cảnh, tâm trạng của nhà thơ. Đây chính là sự phá cách đầy sáng tạo của Nguyễn Trãi, ông đã Việt hóa thơ Đường luật vốn mỗi câu có đủ bảy từ. Lại thêm sự mới lạ với cách ngắt nhịp: một, hai, ba kết hợp với thanh bằng ở cuối câu làm câu thơ nghe như tiếng thở dài nhưng lại không giống lời than thở. Xem bức tranh thiên nhiên của Nguyễn Trãi, trước hết ta thấy hình ảnh một con người ngồi đó - Câu mở đầu hóng mát ngoạn cảnh nhàn nhã, thảnh thơi. Phải chăng, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào ông cũng vẫn hòa mình cùng thiên nhiên, bức tranh thiên nhiên đã hiện ra trước mắt ông thật rực rỡ
Ba câu thơ tiếp theo, dưới ngòi bút đầy tài năng của Nguyễn Trãi, một bức tranh thiên nhiên thật sống động và đầy màu sắc đã đến với chúng ta một cách chân thật nhất. Đó là màu xanh của cây hòe, màu đỏ của hoa lựu, màu hồng của hoa sen, màu vàng lung linh của ánh nắng chiều. Tất cả hòa quyện lại với nhau, tạo nên cảnh vật đặc trưng của mùa hè. Mở đầu câu thơ là hình ảnh cây Hòe – một loại cây đặc trưng ở vùng Bắc Bộ, rất dễ bắt gặp ở mọi nơi. Tính từ” đùn đùn “ kết hợp với động từ mạnh “ giương” đã góp phần diễn tả sự sum xuê, nẩy nở, làm cho cây hòe như có hồn hơn, làm bức tranh như sống động hơn. Bên cạnh đó, không chỉ cảm nhận bằng thị giác, Nguyễn Trãi còn cảm nhận cảnh vật bằng thính giác và khứu giác. Nhịp thơ ¾ kết hợp với động từ mạnh” phun “ làm cảnh vật dường như nổi bật hơn nhưng lại không chói chang, oi nồng mà mát dịu, tinh tế. Bức tranh cảnh ngày hè đã trở nên sinh động, đặc sắc hơn với âm thanh và mùi vị. Mặc dù khung cảnh mà tác giả miêu tả là cuối ngày, khi mặt trời lặn nhưng mọi vật vẫn tràn đầy sức sống với những từ ngữ “đùn đùn”, “giương”, “phun”, “tiễn”, “ lao xao”, “dắng dỏi”. Những từ ngữ đó cũng góp phần thể hiện những điều trong lòng tác giả - ước mong được cống hiến cho nhân dân, cho đất nước. Nhiệt huyết đó như muốn phun ra, trào ra và lan tỏa đi khắp nơi. Trong sáu câu thơ này, tác giả đã thay đổi, không đi theo tính quy phạm của văn học phong kiến nữa. Ông đã miêu tả cảnh ngày hè với những sự vật vô cùng gần gũi với cuộc sống hằng ngày.
Và “ Cảnh ngày hè” trong thơ Nguyễn Trãi không chỉ thể hiện trong những màu sắc của thiên nhiên tươi đẹp mà còn qua nhịp sống sinh đẹp của nhân dân.
“ Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Hai từ láy “lao xao”, “dắng dỏi” kết hợp với nhau đã thể hiện những âm thanh
của làng chài quen thuộc- lao xao của chợ cá, rộn rã của tiếng ve. Ở đây, Nguyễn Trãi đã ngắm nhìn cuộc sống, cảm nhận cuộc sống với một tâm hồn rộng mở một tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống. Tiếng lao xao, tiếng ve phải chăng là tiếng lòng ông, tiếng lòng của một vị tướng cầm quân từng xông pha trận mạc một thời, tiếng lòng của một người yêu thiên nhiên tha thiết. Thiên nhiên, cảnh vật ở vào thời điểm cuối ngày nhưng sự sống thì không dừng lại. Cũng như Nguyễn Trãi, mặc dù đã lui về ở ẩn nhưng lòng ông lúc nào cũng có một tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước tha thiết.
Hai câu cuối của bài thơ đã được tác giả gửi gắm trọn vẹn tâm tư và suy nghĩ, qua đó, thể hiện hết phần nào về vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi.
“ Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương”
Ở đây, tác giả đã mượn điển tích để nói lên khát vọng của mình. Câu thơ cuối sáu chữ ngắn gọn, nhịp 3/3 thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài – tác giả khát khao đem tài trí thực hành tư tưởng yêu nước, thương dân, và đó cũng chính là tưởng chủ đạo của bài thơ. Tuy tác giả đón nhận cảnh ngày hè với tư thế ung dung trong một ngày nhàn rỗi nhưng ông vẫn luôn suy nghĩ, lo lắng cho nhân dân, cho đất nước. Cảm nhận cảnh ngày hè nhưng tác giả vẫn quan tâm tới cuộc sống của nhân dân. Thế nên ông nghe thấy âm thanh tấp nập, lao xao của làng chài. Ông quan tâm tới nhân dân, lo cho dân cho nước. Chính vì vậy, ông ước mong mình có cây đàn của vua Ngu Thuấn. Với cây đàn đó, Nguyễn Trãi có thể mang tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và đất nước. Không có một lòng yêu quê hương, đất nước sâu đậm, ông không thể có một ước muốn như vậy. Không có lòng yêu quê hương, đất nước, ông không thể cảm nhận được hết vẻ đẹp mùa hè nơi một làng chài quê hương thanh bình. Và, không có lòng yêu quê hương, đất nước, ông không thể viết nên bài thơ “ Cảnh ngày hè” làm xúc động lòng người như vậy.
Bài thơ tả cảnh ngày hè cho thấy tâm hồn Nguyễn Trãi chan chứa tình yêu thiên nhiên, yêu đời, yên nhân dân, đất nước. Việt hóa thơ Đường luật, sáng tạo thơ thất ngôn xen lục ngôn, vận dụng hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm thanh của cảnh vật thiên nhiên và cuộc sống của con người, hệ thống ngôn ngữ giản dị tinh tế xen lẫn từ Hán và điển tích chính là nhửng nét nghệ thuật đặc trưng cho “ Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi.
Bài thơ “Cảnh ngày hè” đặc sắc về cả nội dung và nghệ thuật. Qua đó, ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi. Ông là người yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước. Nhưng trên hết, ông là một người vừa có tài, vừa có tâm bởi ông luôn lo lắng cho nhân dân, cho đất nước. Ông muốn cống hiến nhiệt huyết của mình để nhân dân hạnh phúc, ấm no, đất nước giàu mạnh. Tư tưởng của Nguyễn Trãi như một bài học gửi gắm cho thế hệ trẻ về lòng yêu nước, ước mong cống hiến cho đất nước.

5 thg 12, 2010

Cảm nhận về "Cảnh ngày hè" của Nguyễn Trãi

--------------------------------------------------------------------------------

"Rồi hóng mát thuở ngày trường
Hoè lục đùn đùn tán rợp gương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương."


Bài thơ 8 câu 54 chữ gồm một bức tranh cảnh ngày hè - 6 câu đầu và một lời bình, suy ngẫm từ bức tranh ấy - 2 câu cuối.

Trong bức tranh đậm màu, nền trời chiều ráng đỏ, một ngôi lầu vắng lặng, cây hoè cổ thụ ngoài sân tán xanh thẫm, che rợp, bên hiên nhà cây thạch lựu sắc đỏ. Vài ba chú ve trên các cành cây. Ao sen hồng và xa xa là làng chài đang họp chợ. Có một người ngồi trên lầu trâm ngâm.

Xem tranh, trước hết ta thấy một tư thế của con nguời ngồi đó. Câu mở đầu “hóng mát” - ngoạn cảnh nhàn nhã, thảnh thơi.

Nên nhớ, đây là bức tranh thơ của vị tướng cầm quân từng xông pha trận mạc một thời, từng “đau lòng nhức óc” vì vận nước từng cùng Lê Lợi “dựng cầu trúc ngọn cờ phấp phới”, và sau này sắm vai ẩn sĩ mà tấm lòng vì dân nước không lúc nào yên “Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng”. Đặt trong nỗi truân chuyên của cuộc đời Nguyễn Trãi, mới thấy quí cái giây phút ngắn ngủi hiếm hoi này, mới thấy cái tư thế ung dung thưởng ngoạn kia là sự hưởng thụ chân chính. Sau tư thế ấy, thấy cả cái không khí yên bình của cả một làng quê, đất nước vừa qua cơn binh lửa.

Con người này có ánh mắt tinh tế, say mê. Người ngắm cảnh có đôi mắt rất sành : 3 loại cây, 3 dáng vẻ, không trùng lặp. Tả cây, mà lộ ra khuôn mặt của mùa hè. Cây hoè : tán xanh xum xuê, toả rộng - sức sống vươn cao. Thạch lựu : sắc đỏ - rực rỡ của tố chất khoẻ mạnh. Sen hồng : đậm hương - tâm hồn nồng hậu, thanh cao. Ba loại cây, ba dáng vẻ, ba màu sắc nữa (xanh, đỏ, hồng) đều có hồn. Ngôn ngữ của thơ thay cho chất liệu màu của họa là lời nói sống động của đời thường. Chữ “đùn đùn” khiến ta cảm nhận được sự sống đang nảy nở mạnh mẽ, trông thấy được bằng mắt thường. Chữ “phun” còn lạ hơn. Không tả hoa đỏ, mà cảm nhận cây lựu đang phun, đang tuôn ra sắc đỏ. Sen hồng cố đậm hương. Con ve kia cũng gắng hết sức trong những tiếng kêu cuối cùng. Chợ ở làng chài đang náo nhiệt nên vọng xa lao xao... Chỉ là Bức tranh phong cảnh ư ? Không phải ! Đấy là Bức tranh đời. Ở đó tạo vật và con người đều dang sống hết sức mình, sống rất nhiệt tâm, băng mình trong trường tranh đấu sống.

Ta bất ngờ nhận ra điều kì lạ. Con người hoạ sĩ trong thi nhân Nguyễn Trãi thế kỉ XV ở Việt Nam có gì rất gần gũi đại danh hoạ Hà Lan thế kỉ XIX, Vanh-xăng-Van-gốc. Không phải ở những sắc màu được sử dụng, mà ở cách diễn tả nó. Van-gốc vẽ đồng lúa ta cứ ngỡ cánh đồng bốc cháy. Hàng cây bên đường cũng quằn quại vệt lửa. Van-gốc đốt cháy mình trong tranh. Nguyễn Trãi đốt cháy mình trong thơ. Chữ “đùn đùn”, “phun”, "tiễn", "lao xao", "dắng dỏi" là lửa sống rừng rực trong lòng Ức Trai mặc cho do thời thế ông đang phải lui về quy ẩn "Rồi, hóng mát thuở ngày trường".

Trong bức tranh này, thính giác nhậy bén đã giúp Nguyễn Trãi “vẽ” cảnh bằng nhạc. Xa xa, chợ cá không rõ hình, song âm thanh “lao sao” chở hồn đến cho người đọc cái rộn ràng nhộn nhịp, náo nhiệt của cuộc sống thanh bình. Nếu “lao sao” là khúc hoà tấu của đời sống dân sinh, thì “dắng dỏi cầm ve” tấu lên âm thanh của cây đàn độc huyền, ngân lên thiết tha cuối chiều, vấn vương nét quí tộc, lầu cao đơn độc. Hai phong điệu dân dã và quí tộc hoà hợp, bởi chất keo dính của đời thường, đậm đà hơi thở sống.

Cho nên vẽ bức tranh này đâu chỉ là chuyện của giác quan chuyên nghiệp họa sĩ hay thi sĩ mà là năng lực, phẩm chất của tâm hồn - tâm hồn tinh tế, đằm thắm của một con người hết mực yêu đời, say mê cuộc sống.
Bức tranh Cảnh ngày hè có một lời bình - một suy ngẫm đứng riêng, độc lập.


Dễ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương



Mạch thơ từ hướng ngoại sang hướng nội. Từ miêu tả sang biểu cảm, khách thể sang chủ thể. Nguyễn Trãi đã trực tiếp bộc lộ nỗi lòng mình trong hai câu thơ kết. Ấy là một giấc mơ, và cả một học thuyết nhân sinh ấp ủ bật ra thành lời.

Giấc mơ, đó là giấc mơ Nghiêu Thuấn. Giấc mơ ngàn đời của những con người Phương Đông sống trong thời trung đại. Mong sao có một bậc vua hiền để được yên ổn ấm no hạnh phúc. Trước hơn bốn trăm năm, thời Tiền Lê, Pháp Thuận đã phát biểu "Vận nước như mây cuốn / Trời Nam mở thái bình / Vô vi trên điện các / Xứ xứ dứt đao binh". Vận nước có rối ren thế nào cũng mong hai chữ thái bình, nhà vua đừng làm điều gì nhiễu nhương thì khắp nơi đều hết nạn binh đao. Sau mấy mươi năm, vị vua hiền minh Lê Thánh Tông cố sức mình cũng chỉ để thỏa lòng mong muốn :


Nhà nam nhà bắc đều có mặt
Lừng lẫy cùng ca khúc thái bình.


Bây giờ đây, ưu tư thế cuộc, nhìn đời - từ cỏ cây, vạn vật đến sinh linh vui sống như thế, Nguyễn Trãi lại khắc khoải khát vọng muôn năm này. Mong trị quốc, bình thiên hạ sao cho dân giàu nước mạnh là giấc mơ của một bậc đại nhân.

Nếu giấc mơ kia là của bậc đại nhân, thì cái lõi tư tưởng của giấc mơ là của bậc đại trí. Đó là tư tưởng “thân dân” (dĩ dân vi bản) từng được vạch rõ trong Bình Ngô Đại Cáo - "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân".

Đó là tư tưởng lớn. Với Nguyễn Trãi, tư tưởng ấy từng sôi sục trong hành động, khắc khoải trong tâm tưởng, rát bỏng trong thi ca. Cả bài thơ 8 chữ, đến tận dòng cuối cùng, chữ “dân” mới bật ra, song chính là cái nền tư tưởng, tình cảm của tác giả, cái hồn của bài thơ. Là sợi chỉ dỏ xâu chuỗi cả 8 câu thơ lại.

Cảnh ngày hè (Gương báu răn mình số 43) không định giáo huấn chung. Trước đời sống đang dâng trào, yên lành thế, Nguyễn Trãi tự răn mình, phải làm sao cho cuộc sống này trở thành mãi mãi và chỉ khắc khoải một nỗi "tiên ưu" ấy mà thôi.

11 thg 1, 2010

Ôn KTC đợt 3

NỘI DUNG VÀ CẤU TRÚC ĐỀ KIỂM TRA CHUNG ĐỢT 3 2009-2010

Môn Ngữ Văn 10

Ban nâng cao

Thuyết minh về tác giả (2đ) (gợi ý kiến thức tối thiểu cần đạt)
Trương Hán Siêu
Trương Hán Siêu (?-1354) tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh, Ninh Bình.
Ông là môn khách của Trần Hưng Đạo, tham gia kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, làm quan dưới bốn đời vua Trần (Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông). Các vua Trần rất kính trọng Trương Hán Siêu, thường gọi ông là “thầy”.
Do có tài đức nên khi mất ông được thờ ở Văn Miếu (Hà Nội)
Tác phẩm của ông hiện còn lại bốn bài thơ và ba bài văn,trong đó có “ Bạch Đằng giang phú “ là tác phẩm đặc sắc của VH trung đại Việt Nam.

Hoàng Đức Lương
- Hoàng Đức Lương (chưa rõ năm sinh năm mất), người làng Cửu Cao, huyện Văn Giang, nay thuộc tỉnh Hưng yên, sau chuyển đến làng Ngọ Kiều, Gia Lâm, Hà Nội.

- Ông đỗ tiến sĩ năm 1478, Ông sưu tầm, tuyển chọn tác phẩm của các tác giả từ thời Trần đến đầu thời Lê, biên soạn thành Trích diễm thi tập và hoàn thành Trích diễm thi tập năm 1497. Tập thơ gồm 6 quyển, phần cuối là bài tựa trình bày lí do ra đời và quá trình hình thành của cuốn Trích diễm thi tập.

Lí Bạch
Lí Bạch (701 – 762), tự là Thái Bạch, quê ở tỉnh Cam Túc. Ông lớn lên ở Tứ Xuyên, tính tình hào phóng, thích giao lưu bạn bè và ngao du thưởng ngọan phong cảnh.
Năm 25 tuổi LB rời quê hương đi tìm đường thực hiện hoài bão, ước mơ, những mong dân chúng được yên vui, “đất nước thanh bình”. Ông làm việc ở viện hàn lâm, do thất vọng triều đình, chỉ sau ba năm LB đã ra đi tiếp tục cuộc ngao du sơn thủy. Ông mất vì bệnh, để lại trên 1000 bài thơ.
- Ông là một nhà thơ lãng mạn lớn, có nhiều bài thơ nổi tiếng viết về đề tài thiên nhiên, chiến tranh, tình yêu, tình bạn. Âm hưởng chủ đạo trong thơ ông là tiếng nói yêu đời, lạc quan hào phóng dù bên cạnh vẫn còn một số tác phẩm có vài nét tiêu cực như tư tưởng hành lạc, cầu tiên học đạo.

- LB đã có những sáng tạo mới mẻ, táo bạo trong việc xây dựng hình ảnh, tứ thơ cũng như trong việc sử dụng thể thơ và ngôn từ.” Tại lầu Hoàng hạc tiễn Mạch Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” được xem là bài thơ hay nhất trong đề tài tiễn biệt của Ô.

d. Đỗ Phủ

- ĐP (712-770) quê ở huyện Củng, tỉnh Hà Nam, xuất thân trong gia đình có truyền thống nho học và thơ ca lâu đời. Ô là nhà thơ hiện thực lớn nhất không chỉ của thời Đường mà của cả lịch sử thơ ca cổ Trung Quốc. Thơ ông còn được gọi là thi sử.

- Ô bắt đầu làm thơ khi nhà Đường còn phồn vinh, song sáng tác chủ yếu trong và sau cuộc cuộc binh biến An Lộc Sơn lúc đất nước Trung Quốc chìm ngập trong cảnh loạn li. ĐP có làm vài chức quan nhỏ trong một thời gian ngắn. Trong mười một năm cuối đời Ô đưa gia đình đi lánh nạn khắp các vùng thuộc các tỉnh phía tây nam Trung Quốc (Cam Túc, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam)

- Nhà thơ qua đời trong đói rét bệnh tật trên một chiếc thuyền, để lại cho hậu thế khoảng 1500 bài thơ. Năm 1962 hội đồng hòa bình thế giới tổ chức kỉ niệm 1250 năm năm sinh của ông.

- Tp tiêu biểu: Binh xa hành, Lệ nhân hành, Tam biệt, Thu hứng…

Thuyết minh về thể loại văn học: (2đ)
Phú: Phú vốn là thể văn Trung Quốc, thịnh hành vào thời Hán, dùng lối văn có nhịp điệu, nhằm miêu tả, trình bày sự vật để biểu hiện tư tưởng tình cảm của tác giả. Phú có bốn loại chính: cổ phú, bài phú, luật phú và văn phú.
Cổ phú thường dùng hình thức “chủ - khách đối đáp”, không đòi hỏi đối, cuối bài thường được kết lại bằng thơ.

Bài phú là phú dùng hình thức biền văn, câu văn 4 chữ, 6 chữ, 8 chữ sóng đôi với nhau.

Luật phú là phú thời Đường, chú trọng đến đối; vần hạn chế, gò bó.

Văn phú là Phú thời Tống, tương đối tự do có dùng câu văn xuôi.
TPTB: Phú sông Bạch Đằng - Trương Hán Siêu
Phú núi Chí Linh - Nguyễn Trãi

Cáo:
-Là tên gọi thể văn có nguồn gốc từ Trung Quốc cổ xưa. Sau này vua chuyên dùng thể cáo để công bố những việc trọng đại của đất nước với muôn dân.
-Cáo thường được viết bằng văn biền ngẫu. không có vần hoặc có vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai vế đối nhau. Cũng như hịch, cáo là thể văn hùng biện, do đó lời lẽ phải đanh thép, lí luận phải sắc bén, kết cấu phải chặt chẽ, mạch lạc
-TPTB: Đại cáo ( bài cáo cổ xưa nhất của TQ)
Bình Ngô Đại Cáo (Nguyễn Trãi)

Tựa:
-là bài văn thường được đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lý, hội họa, âm nhạc… nhằm giới thiệu mục đích, nội dung quá trình hình thành và kết cấu của tác phẩm ấy.
- Bài tựa có thể do tác giả tự viết, cũng có thể do một ai đó vì yêu quý mến mộ tác phẩm mà viết. Cuối bài tựa thường ghi họ tên, chức tước của người viết và ngày tháng địa điểm làm bài tựa. Người ta gọi phần này là lạc khoản.
-Ngoài các nội dung trên, riêng bài Tựa “Trích diễm thi tập” còn cho biết về thời đại, về quan niệm văn chương của tác giả. Văn của thể tựa có tính chất thuyết minh, thường kết hợp với nghị luận và tự sự, có khi còn mang sắc thái trữ tình.

Thuyết minh về tác giả, tác phẩm văn học (6 điểm)
(gợi ý kiến thức tối thiểu cần đạt)

a. Tác gia Văn học

Đề tài: Thuyết minh về một tác gia văn học “Nguyễn Trãi”
Kết cấu văn bản theo trật tự logic trật tự thời gian.
Cấu trúc 3 phần
+ Phần 1: nêu vấn đề -> Giới thiệu chung và nhận định về giá trị và ảnh hưởng của Nguyễn Trãi

+ Phần 2: Giới thiệu chi tiết về Nguyễn Trãi

Sơ lược tiểu sử, cuộc đời.
sự nghiệp sáng tác thơ văn
Tác phẩm tiêu biểu

Nội dung tác phẩm

vị trí ảnh hưởng của tác gia đối với lịch sử văn học
+ Phần 3: Khẳng định đóng góp và vị trí của Nguyễn trãi đối với văn hoá Việt Nam.

Tác phẩm văn học

b. Tác phẩm văn học

Đề tài Thuyết minh một tác phẩm văn học: “Đại cáo bình Ngô”
Kết cấu văn bản theo trật tự logic và trật tự thời gian.
Vị trí tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác
Thể loại tác phẩm
Nhan đề
giới thiệu nội dung và nghệ thuật tác phẩm
Nêu luận đề chính nghĩa
Tố cáo tội ác quân Minh
Chủ đề
Nghệ thuật
Khẳng định giá trị của tác phẩm
vị trí của tác phẩm trong sự nghiệp sáng tác của tác giả.
Đánh giá chung.
Đề tài: Thuyết minh tác phẩm: “Bạch Đằng giang phú”
Kết cấu văn bản theo trật tự logic và trật tự thời gian.
Tác giả, xuất xứ
thể loại tác phẩm
giới thiệu nội dung và nghệ thuật tác phẩm
Thú du ngoan và cảm xúc của nhân vật “khách”
Những chiến công vĩ đại của quân ta trên sông Bạch Đằng và sự thất bại thảm hại của kẻ thù qua lời kể của các bô lão.
lời ca về sông Bạch Đằng.
Chủ đề
Đánh giá
Nội dung, nghệ thuật
Đánh giá chung