Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Thuyết minh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Thuyết minh. Hiển thị tất cả bài đăng

30 thg 4, 2017

Vì sao nói hiếu thuận chính là ngọn nguồn của hạnh phúc đời người?

Lịch sử nhân loại được truyền thừa đời sau tiếp nối đời trước, như con sông dài mãi chảy về khơi. Cuộc sống của mỗi một người lại giống như con sóng trên sông đang đi tìm nguồn cội, đời này nối tiếp đời kia...Tất cả những điều đó đã tạo nên một dòng chảy văn hoá truyền thừa đầy sắc màu, thi vị và chan chứa nhân văn.

Hơn hai nghìn năm trước, tại mảnh đất Thần Châu, cuộc đối thoại giữa hai thầy trò đã để lại một giai thoại đẹp cho người đời. Người học trò Tử Lộ đứng bên bờ sông mà hỏi thầy mình rằng: “Thưa thầy, con muốn được biết chí hướng của thầy?”. Vị thầy Khổng Tử suy nghĩ một lúc rồi đáp vẻn vẹn 12 từ: “Lão giả an chi, bằng hữu tín chi, thiếu giả hoài chi.” Ba câu này của Khổng Tử có thể hiểu đơn giản như sau: “Lão giả an chi” chính là Hiếu, “Bằng hữu tín chi” chính là Tín, “Thiếu giả hoài chi” chính là Bi.Tại sao Khổng Tử không để Tín hay Bi đứng trước mà lại là chữ Hiếu? Phàm là từ bậc thánh nhân cho đến người thường đều đem chữ Hiếu đứng đầu? Cổ nhân còn có câu: “Bách thiện hiếu vi tiên” (trong trăm việc thiện thì hiếu đứng đầu). 
Bản năng và bổn phận 
Người ta cũng sớm nhận ra rằng có một số loại bổn phận thuộc về bản năng, vốn không cần động lực để gò ép, ví như bổn phận vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Trẻ con ngay từ lúc lọt lòng đã sẵn có tình cảm quyến luyến với cha mẹ. Người mẹ cũng có sẵn cái gọi là bản năng làm mẹ, muốn được quan tâm, săn sóc, đùm bọc, chở che cho con cái. Đó vốn là những điều không cần phải dạy bảo, ai cũng sẵn có trong lòng. 
Nhưng bổn phận hiếu đức lại là một trường hợp khác. Quan sát một đứa trẻ nhỏ, ta sẽ không thể thấy được sự hiếu thuận của chúng. Khi đói ăn, phản ứng đầu tiên của chúng là tìm bằng được đồ ăn, không cần quan tâm xem bố mẹ có đói không, đã ăn chưa…  Từ đó có thể thấy hiếu thuận không phải là bản năng thiên bẩm của con người, mà là kết quả của sự tu dưỡng. 
Sở dĩ con người tuân thủ theo bổn phận của mình chính là do họ tin vào thiện hữu thiện báo, ác giả ác báo. Chỉ có sự thành thật và thiện lương, không giết người hại vật, chỉ làm điều thiện thì mới có được một cuộc sống hạnh phúc, mới được cứu độ. Đó là cái lý mà ai cũng hiểu, ai cũng làm theo. Con người trong xã hội cổ đại luôn là như thế. Họ tin rằng nếu trong thời gian thọ mệnh hành thiện, tích đức thì sau khi chết đi linh hồn sẽ được lên thiên đường. Hoặc giả, người có thể tu luyện thành chính quả, đắc giác ngộ thậm chí còn vĩnh viễn thoát khỏi sự đau khổ của luân hồi chuyển thế. 
Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển, người ta cũng càng coi trọng thế giới thực tại hơn. Họ cũng tỏ ra thận trọng, dè dặt, thậm chí hoài nghi đối với thế giới sau cái chết và những chuyện luân hồi, báo ứng. Ví như Khổng Tử từng nói: “Bất tri sinh, yên tri tử” (chưa hiểu rõ được đạo lý sinh thế nào, làm sao có thể hiểu được chết ra sao?). 
Con người tìm kiếm cho mình một con đường nương theo thế giới hiện thực để phát triển bản tính thiên bẩm của mình. Con đường này được xây dựng nên từ những mối quan hệ máu mủ thân thiết bẩm sinh hết sức thực tại với người thân, cha mẹ. Do đó, chúng ta có thể dễ dàng lý giải tại sao hiếu đạo lại là điểm khởi đầu của tu dưỡng đức hạnh. 
Đức hạnh của vua Thuấn
Đối với văn hoá truyền thống của các dân tộc Á Đông, chữ hiếu được xếp đứng đầu trong mọi đức hạnh, Người Trung Hoa xây dựng khái niệm hiếu đức của mình xoay quanh “Nhị Thập Tứ Hiếu” (tức 24 nhân vật nổi tiếng có hiếu đức). 
Trong số đó, vua Thuấn là điển hình mẫu mực nhất. Ông trở thành biểu tượng về lòng hiếu thuận. Tương truyền, mẹ Thuấn không may mất sớm từ khi ông còn nhỏ. Cha Thuấn hai mắt lại mù loà, mẹ kế sinh thêm một người em tên là Tượng. Thuấn sống trong hoàn cảnh khổ cực. Cha thì ương bướng, cố chấp , mẹ kế thì gian trá, em thì kiêu ngạo. Thuấn luôn luôn chịu đủ điều ức hiếp, không những vậy còn nhiều lần bị mẹ kế bày mưu hãm hại.
Có một lần, mẹ kế sai Thuấn đi sửa mái nhà kho, rồi ở dưới đốt lửa cháy kho muốn giết chết Thuấn. Lại có một lần bà sai Thuấn đi đào giếng, tới khi đào xuống dưới sâu thì đứng ở trên lấy đất lấp lại. Rất may khi đào xuống sâu bên dưới, Thuấn phát hiện một đường thông đạo dẫn ra bên ngoài, nhân men theo đường đó mà thoát nạn.
Nhưng trước sau như một, Thuấn chưa bao giờ lấy điều đó mà ghi thù nhớ oán. Sau mỗi lần thoát nạn, ông lại càng thêm phần hiếu thuận với cha mẹ hơn xưa. Thuấn quả thực là một người có phẩm hạnh siêu thường. Sự hiếu thuận đã đưa tên tuổi của vang danh khắp thiên hạ. Sau này, ông được vua Nghiêu gả con gái và nhường lại giang sơn cho cai quản.
Tại sao cổ nhân lại đem câu chuyện hiếu thuận kỳ lạ, thậm chí có chỗ tưởng như vô lý này xếp đầu 24 gương hiếu thảo? Phải chăng người xưa muốn căn dặn điều này? Trong một đời người, không ai có quyền lựa chọn cha mẹ hay con cái của mình. Chúng ta chỉ có thể lựa chọn nghề nghiệp, nơi ở và cách sống. Nếu đã không thể lựa chọn vì sao không thể thay đổi thái độ để cải biến hoàn cảnh? Người mẹ kế độc ác nhưng thái độ ứng xử lấy thiện đãi người của vua Thuấn đã cải biến hoàn cảnh hoàn toàn, lại giúp ông được đề cao, lưu danh vào sử sách như một tấm lòng chí hiếu. 
Văn hoá truyền thống Á Đông coi hiếu đức như điểm khởi đầu của sự tu dưỡng bản thân. Chỉ khi biết yêu thương cha mẹ mình, người ta mới có được đức nhân từ, bao dung độ lượng. Từ góc độ chiết tự, chữ 孝 (Hiếu) được ghép bởi hai phần, trên là chữ “Lão” dưới là chữ “Tử”, nghĩa là người già bên trên, người trẻ ở dưới, ý nói hậu bối cần phải tôn trọng các bậc trưởng bối nhiều tuổi hơn mình. 
Bồi dưỡng một trái tim lương thiện, mở rộng tình cảm cá nhân thành lòng thương người, bắt đầu từ việc thiện đãi người thân bên cạnh, thiện đãi hết thảy mọi người xung quanh, lấy đây làm chuẩn tắc đối nhân xử thế. Chỉ khi nuôi dưỡng được thiện tâm tròn đầy, người ta mới có thể tận hưởng một cuộc sống hạnh phúc hơn, ý nghĩa hơn. Khi luôn bảo trì một trái tim từ bi, yêu thương (gần nhất là với cha mẹ) người ta mới có thể dung nạp được hết thảy sự đời, mỉm cười trước những khó nạn tưởng chừng cao như núi. Do đó cũng có thể nói, hiếu thuận chính là cái gốc của hạnh phúc vậy! 
 ĐKN (st)

26 thg 3, 2016

Chuẩn bị thi HK2- Văn thuyết minh: Truyện Kiều

Tổ 2 làm theo HD:
1. TT phân công các bạn theo dàn ý:
-MB
-Tiểu sử ND
- Hoàn cảnh st, xuất xứ TK
- Nội dung TK
- Nghệ thuật TK
- Giá trị TK
-Vị trí của TK trong sự nghiệp ND
-Kết luận
2. TT phân công 1 đến 2 bạn chiu trách nhiệm tổng hợp chung

Chuẩn bị bài số 7-HK2-Thuyết minh về Nguyễn Du

Tổ 1 làm theo HD:
1. TT phân công các bạn theo dàn ý:
-MB
-Tiểu sử ND
-SNST NDu
- Ảnh hưởng cuộc đời đến SNST của ND
-Giới thiệu về nội dung-NGhệ thuận thơ chữ Hán ND
-Giới thiệu về nội dung-NGhệ thuận thơ chữ Nôm ND
-Vị trí của ND
-Kết luận
==> 1 đến 2 bạn chiu trách nhiệm tổng hợp chung

23 thg 1, 2011

Thuyết minh" Đại cáo bình Ngô"

Trường: Võ Thị Sáu
Lớp: 10a8
Tên: Phạm Trần Nguyệt Minh STT: 19


Đề bài: Thuyết minh về bài “ Đại cáo bình ngô” của Nguyễn Trãi


Bài làm

Có thể nói, Nguyễn Trãi là một bậc anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới. Đồng thời, Nguyễn Trãi còn là nhà văn trữ tình sâu sắc, nhà văn chính luận lỗi lạc. Và, nhắc đến văn chính luận Nguyễn Trãi, ta không thể không nhắc đến bài “ Đại cáo bình Ngô “ mang những nét rất đặc trưng, cơ bản của thể cáo.
Như chúng ta đã biết: năm 1427 đánh dấu sự kiện trọng đại quân ta đại thắng chống lại giặc Minh xâm lược. Thừa lệnh Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã sáng tác ra “ Đại cáo bình Ngô”- được coi là bản tuyên ngôn độc lập, một áng “ thiên cổ hùng văn” của dân tộc ta. “ Bình Ngô đại cáo” đã nói lên phần nào nỗi lòng của Nguyễn Trãi cũng như của cả dân tộc Việt Nam ta: căm thù, phẫn uất trước kẻ thù xâm lược đồng thời thể hiện niềm tự hào về chiến công to lớn của thời đại. “ Đại cáo bình Ngô” được viết theo thể cáo, gồm bốn phần với những ý nghĩa sâu sắc khác nhau.
Chúng ta hãy cùng đến với đoạn mở của” Bình Ngô đại cáo”. Ở đoạn này, tác giả đã khẳng định luận đề chính nghĩa ngay ở những câu đầu tiên:
“ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Tác giả khẳng định nghĩa quân Lam Sơn chiến đấu chống giặc Minh là để cuộc sống yên bình, là diệt trừ những thế lực tham tàn, bạo ngược, đó chính là việc làm danh nghĩa. Sau đó, Nguyễn Trãi còn khẳng định nước ta là một nước độc lập có chủ quyền, có lãnh thổ, phong tục, triều đại riêng…. Ở đây, giọng thơ nghe sao tự hào quá đỗi. Phải chăng, đây chính là những dòng thơ viết từ chính tiếng lòng hạnh phúc của Nguyễn Trãi, từ chính tấm lòng yêu quê hương, đất nước cao đẹp:
“ Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”
Bằng những lí lẽ xác đáng, lập luận chặt chẽ, Nguyễn Trãi đã khẳng định nghĩa quân Lam Sơn chống lại giặc Minh là việc làm nhân nghĩa, hợp với lòng dân, hợp với quy luật là chính nghĩa. Và lẽ dĩ nhiên, những việc làm cao quý đó chỉ có thể xuất phát từ một lòng yêu nước, thương dân cao cả.
Vạch rõ, tố cáo những tội ác của giặc Minh chính là nội dung chính của đoạn
tiếp theo. Ở đây, Nguyễn Trãi đã liệt kê ra một loạt tội ác của giặc Minh. Chúng không chỉ có âm mưu xâm lược nước ta mà còn thực hiện nhiều chính sách thuế má, phuaphen nặng nề, vơ vét sản vật quý hiếm, diệt xản xuất, sự sống, tàn sát dã man dân ta, làm cho dân ta lâm vào cảnh” khốn cùng”.
“ Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”
Cuối cùng, sau khi liệt kê một loạt tội ác của giặc Minh, tác giả đã bộc lộ thái độ căm thù, phẫn uất đồng thời kết tội chúng:
“ Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi
Lẽ nào trời đất dung tha
Ai bảo thần nhân chịu được ? “
Tác giả đã có cách lập luận chặt chẽ, lời văn đanh thép, sử dụng những hình ảnh rất thực và có sức khái quát cao, giọng văn linh hoạt để kết tội giặc Minh. Có thể nói, phần thứ hai là một bảng cáo trạng đanh thép, tố cáo tội ác của giặc Minh là thế lực bạo tàn cần phải diệt trừ.
Đoạn tiếp theo kể về quá trình nghĩa quân Lam Sơn chiến đấu chống lại giặc Minh bạo tàn. Tả về những ngày đầu kháng chiến đầy gian khổ, tác giả đã lấy đó làm nền để lột tả hết những chiến thắng oanh liệt của nhân dân ta:
“ Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đương mạnh.
Lại ngặt vì :
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu. “
Trong lúc thế giặc mạnh thì quân ta binh lực yếu kém, có khi lương thực cạn kiệt, có khi quân ta hiếm hoi nhân tài. Thế nhưng, nhờ tài lãnh đạo của Lê Lợi, nghĩa quân Lam Sơn đã đoàn kết một lòng, vượt qua khó khăn tạo nên sức mạnh to lớn chiến thắng kẻ địch. Đó là do người lãnh đạo có quyết tâm cao độ, có những chiến lược, chiến thuật phù hợp để nâng cao sức mạnh của tình đoàn kết của nhân dân, chú trọng mưu cơ hơn binh lực. Có thể nói, hình tượng của Lê Lợi chính là hình tượng người anh hùng áo vải sinh động và toàn diện.
Với giọng điệu hào hùng, tác giả đã kể về ba trận đánh: Trận Bồ Đằng-tro bay ; Trận Ninh Kiều-tết động ; Trận Chi Lăng-Mã An đến Xương Giang. Trong một loạt những cặp câu biền ngẫu, lối viết thậm xưng, nhạc điệu dồn dập mạnh mẽ mang đậm chất anh hùng ca, tác giả đã nhấn mạnh được sự thất bại thảm hại của giặc Minh và khí thế hào hùng của quân ta.
Đoạn cuối, tác giả đã tuyên bố chiến thắng, khẳng định sự nghiệp chiến đấu chính nghĩa đã thắng lợi hoàn toàn:
“ Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới “
Bằng giọng văn nhẹ nhàng khoan thai, tác giả đã tuyên bố nền hòa bình của dân tộc ta đã được lặp lại. Đồng thời, tác giả cũng rút ra bài học lịch sử và thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước.
Với nghệ thuật chính luận tài tình, cảm hứng trữ tình sâu sắc, “ Đại cáo bình Ngô “ đã có sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và yếu tố văn chương, được xem là áng “thiên cổ hùng văn” của dân tộc ta. Ca ngợi sức mạnh của truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, tinh thần tự lập tự cường nêu bật sức mạnh của nhân dân ta, mở ra kỷ nguyên mới-kỉ nguyên hòa bình, độc lập tự do cho lịch sử dân tộc chính là những ý nghĩa sâu sắc mà “Bình Ngô đại cáo” mang lại.
“Đại cáo bình Ngô” tiêu biểu cho thể loại cáo, tiêu biểu cho thể loại văn chính luận của Nguyễn Trãi. Bài cáo được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc ta, thể hiện được khát vọng tự chủ độc lập, yêu chuộng hòa bình.

21 thg 1, 2011

Giới thiệu về "Đại cáo bình Ngô" của Nguyễn Trãi

NGUYỄN THUỲ DƯƠNG  LỚP 10A8

Thuyết minh về tác phẩm "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi

BÀI LÀM
Trong dòng văn học ca ngợi truyền thống yêu nước xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc tới các tác phẩm của Nguyễn Trãi , một anh hùng dân tộc, một con người có nhân cách lớn, nhà tư tưởng vĩ đại được suy tôn là danh nhân vha8n hóa của nhân loại. Trong đó, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được đánh giá là áng “thiên cổ hùng văn”, luôn được nhiều thế hệ người Việt luôn yêu thích, tự hào.
"Bình Ngô đại cáo" được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết vào khoảng đầu năm 1428 nhằm tổng kết cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược, kể về quá trình kháng chiến gian khổ, hi sinh nhưng thắng lợi vẻ vang, ngợi ca lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa và tài trí thao lược của quân ta. Đây là tác phẩm tiêu biểu cho thể loại “cáo”- một thể loại văn chính luận tiêu biểu của văn học Trung đại VN. Nhan đề tác phẩm có‎ ý nghĩa là bài cáo trọng đại tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô(chỉ giặc Minh xâm lược).Bài cáo gồm bốn phần.
Phần đầu tiên, tác giả nêu cao luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến .Tác giả đã khẳng định nghĩa quân Lam Sơn chiến đấu chống giặc Minh là để nhân dân có cuộc sống yên bình, ấm no, là để diệt trừ thế lực tham tàn,bạo ngược và đó là việc làm nhân nghĩa…
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Sau đó, NT còn khẳng định,nước ta còn là 1 nước độc lập,có chủ quyền,lãnh thổ,phong tục và triều đại riêng:
“Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”.
Bằng những lý lẽ chặt chẽ,cho thấy tg đã khẳng định nghĩa quân LS chống lại giặc Minh là việc làm nhân nghĩa,hợp với lòng dân,hợp với quy luật, đó là chính nghĩa,việc làm đó xuất phát từ tư tưởng yêu nước, thương dân .
Phần thứ hai của bài cáo, tác giả đã vạch trần, tố cáo tội ác dã man của giặc Minh xâm lược. Nhắc đến g.Minh chúng ta không thể quên được 1 số câu chất chứa lòng căm phẫn:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”

“Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế
Gây binh kết oán, trải hai mươi năm”.
Tg đã liệt kê ra 1 loạt tội ác của g.Minh,chúng không chỉ có âm mưu xâm lược nước ta, mà còn thực hiện nhiều chính sách thuế má phu phen nặng nề,vơ vét sản vật quý hiếm,diệt sản xuất,sự sống,tàn sát dã man…. Dân ta phải lâm vào cảnh khốn cùng.Từ đó,tg đã kết tội giặc Minh
“Độc ác thay,trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay,nước Đông hải không rửa sạch mùi”
Hơn thế nữa,tg còn bày tỏ thái độ phẫn uất trước những tội ác đó…
“Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được?”
Bằng cách lập luận chặt chẽ,lời văn đanh thép và những hình ảnh rất thực có tính khái quát cao,giọng văn linh hoạt.Có thể nói, đoạn 2 này là 1 bảng cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác của g.Minh. Đó chính là thế lực bạo tàn cần phải diệt trừ.
Tiếp đó,ta không thể không tự hào trước quá trình chiến đấu gian khổ và tất thắng của cuộc khởi nghĩa qua đoạn 3. Đầu tiên,tg đã kể về buổi đầu khởi nghĩa,quân ta đã gặp rất nhiều khó khăn:
“Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đương mạnh.”
Hay trong lúc thế giặc mạnh thì quân ta binh lực yếu kém,có khi lương thực cạn kiệt,quân ta hiếm hoi nhân tài...
“Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu.”
Thế nhưng,nhờ tài lãnh đạo của LL,nghĩa quân LS đã đoàn kết 1 lòng,vượt qua khó khăn,tạo được sức mạnh. Đó là người lãnh đạo có quyết tâm cao độ,có chiến lược,chiến thuật phù hợp, đề cao sức mạnh của sự đoàn kết, chú trọng mưu cơ hơn binh lược.
“Thế trận xuất kì,lấy yếu chống mạnh;
Dùng quân mai phục,lấy ít địch nhiều…”
Như vậy,người đọc đã cảm nhận được hình tượng LL đó là 1 người có xuất thân dân dã,nhưng có lòng yêu nước sâu sắc,hết lòng lo lắng tận tâm,suy tính đại sự và đã tìm ra cách chiến thắng g.Minh,tập hợp được sức mạnh của nd để làm nên chiến thắng.Có thể nói, đoạn này đã khắc họa được hình tượng người anh húng áo vải 1 cách sinh động,toàn diện.
Sau đó,tg đã kể về những chiến thắng oanh liệt của dân ta qua 3 trận đánh...
Thứ nhất,là trận Bồ Đằng_Trà Lân:
“Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân,trúc chẻ tro bay.”
Thứ hai, là trận Ninh Kiều_Tốt Động:
“Ninh Kiều máu chảy thành sông,tanh trôi vạn dặm;
Tốt Động thay chất đầy nội,nhơ để ngàn năm.”
Cuối cùng là trận Chi Lăng_Mã An cho đến Xương Giang:
“Ngày 18,trận Chi Lăng,Liễu Thăng thất thế,
Ngày 20,trận Mã An,Liễu Thăng cụt đầu,”
Trong 1 loạt câu văn biền ngãu đó, đã thể hiện khí thế khí thế quân ta rõ nhất qua câu:
“Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước,nước sông phải cạn.”
Tuy nhiên,ta vẫn thể hiện tinh thần nhân đạo với kẻ thù. Đó là tư tưởng nhân nghĩa đã mang 1 tầm cao mới:
“Tướng giặc bị cầm tù,như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng;
Thần Vũ chẳng giết hại,thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh.”
Thông qua lối viết liệt kê,hình tượng phong phú đa dạng,dùng nhiều động từ mạnh,các tính từ chỉ mức độ tối đa,lối viết thậm xưng,nhạc điệu dồn dập mạnh mẽ,mang đậm chất anh hùng ca.Trong phần kể về quá trình kháng chiến của nghĩa quân Lam Sơn , tác giả đã dùng lối viết tương phản về lực lượng của ta và địch.Quá đó, tg đã bày tỏ được niềm tự hào của hãnh diện về những chiến thắng của quân ta và nêu bật sự thất bại thảm hại của quân thù.
Cuối cùng,tg đã tuyên bố chiến thắng và khẳng định sự nghiệp chính nghĩa của quân ta đã hoàn toàn thắng lợi.Đến đây,giọng văn của NT đã nhẹ nhàng hơn,khoan thai .Tg đã tuyên bố nền hoà bình của dt ta đã được lập lại, đồng thời cũng rút ra được bài học ls &thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước.
“Xã tắc từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới.”

“Xa gần bá cáo
Ai nấy đều hay”
Với nghệ thuật chính luận tài tình,cảm hứng trữ tình sâu sắc ĐCBN có sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố chính luận và yếu tố văn chương được xem là áng “thiên cổ hùng văn” của dt ta.Hơn thế nữa, “ĐCBN”-NT là bản anh hùng ca,ca ngợi sức mạnh của truyền thống yêu nước,tinh thần độc lập nhân nghĩa tự cường,nêu bật sức mạnh của dân ta trong cuộc khởi nghĩa, đập tan cuộc xâm lăng phi lăng phi nghĩa của g.Minh,mở ra 1 kỷ nguyên mới của độc lập tự do,hoà bình cho ls dt.
Sau khi đọc xong bài cáo,ta thấy rõ “ĐCBN” không chỉ là tác phẩm tiêu biểu cho thể loại văn chính luận của NT mà ta còn hiểu nhận thực rõ chính lòng yêu nước và tinh thần nhân nghĩa là hai yếu tố quyết định đưa cuộc kháng chiến đến thành công, mở ra kỉ nguyên mới cho dân tộc. Chính ví thế bài cáo được coi là bản tuyên ngôn độc lập t2 của dt ta, thể hiện được khát vọng độc lập tự chủ và yêu chuộng hoà bình của toàn dân ta.

19 thg 1, 2011

Vắn tắt về thơ ca của Nguyễn Trãi

-NT là nhà thơ trữ tình sâu sắc      
-TPTB: Quốc âm thi tập (chữ Nôm) , Ức Trai thi tập (chữ Hán)…
-Thơ NT thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu chuộng hòa bình
+Thơ chữ Hán của NT: tinh tế, sâu sắc, có tính triết lí…
+Thơ chữ Nôm: NT là nhà thơ khai sáng văn học Tiếng Việt
- NT đã đem đến cho nền văn học dân tộc thơ Đường luật viết bằng chữ Nôm, góp phần làm cho Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ giàu và đẹp.      

Thể Phú

-Phú là một thể văn có nguồn gốc từ Trung Quốc.
-Phú thường có vần hoặc văn vần xen lẫn văn xuôi, dùng để tả cảnh vật, phong tuc, kể sự việc, bàn chuyện đời…
-Một bài phú gồm 4 đoạn: đoạn mở, đoạn giải thích, đoạn bình luận và đoạn kết. Loại phú có trước thời Đường là phú cổ thể, có vần, không nhất thiết phải có đối, cuối bài thường được kết lại bằng thơ.
-Tác phẩm tiêu biểu: “Bạch Đằng giang phú” (Trương Hán Siêu), “Chí Linh sơn phú” (Nguyễn Trãi), “Hàn nho phong vị phú”(Nguyễn Công Trứ)…

THUYẾT MINH TP "BẠCH ĐẰNG GIANG PHÚ"

 NGUYỄN THUỲ DƯƠNG  LỚP 10A8

Thuyết minh tác phẩm “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu

BÀI LÀM
Trương Hán Siêu không chỉ là một bậc danh sĩ đời Trần mà còn người tài cao, học rộng.Hiện ông còn để lại 4 bài thơ và 3 bài văn, nổi tiếng nhất là "Bạch Đằng giang phú“-1 tác phầm mang đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại VN.
Trong thơ văn cổ Việt Nam có một số tác phẩm lấy đề tài sông Bạch Đằng như:“Bạch Đằng giang”-Trần Minh Tông,“Bạch Đằng giang”-Nguyễn Sưởng, “Bạch Đằng hải khẩu”-Nguyễn Trãi… nhưng”Bạch Đằng giang phú”cũa Trương Hán Siêu được xếp vào hạng kiệt tác và được viết vào khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên thắng lợi.Bài phú này mang những đặc trưng cơ bản của thể phú,vì thế nó gồm có 4 phần: phần mở,phần giải thích,phần bình luận và phần kết.
Mở đầu bài phú,tg bày tỏ ước muốn được đi đây, đi đó để thưởng ngoạn và ngắm vẻ đẹp của quê hương, đất nước.
“Khách có kẻ
Giương buồm giong gió chơi vơi,
Lướt bể chơi trăng mải miết.”
Tg đã liệt kê 1 loạt những địa danh nổi tiếng,những nơi có vẻ đẹp được nhiều người biết đến ở Trung Quốc như:Vũ Huyệt,Cửu Giang,Ngũ Hồ, Tam Ngô,Bách Việt... Đây là cách nói ước lệ tượng trưng tác giả bày tỏ niềm khao khát mãnh liệt được đi du ngoạn nhiều nơi để ngắm cảnh, để cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước ta.
Ở phần tiếp theo,ta lại thấy cảnh sông Bạch Đằng qua lời miêu tả của nhân vật khách một bức tranh sinh động,giản dị:
“Bát ngát sóng kình muôn dặm,
Thướt tha đuôi trĩ một màu
Nước trời một sắc
Phong cảnh ba thu.”
Thông qua 1 loạt những từ láy gợi hình,kết hợp với việc nhắc đến những địa danh gắn liền với sông Bạch Đằng.Tg đã gợi cho người đọc vẻ đẹp hùng vĩ,bát ngát mênh mông của sông Bạch Đằng. Đồng thời tg cũng bày tỏ được cảm xúc của mình khi đứng trước 1 nhân chứng ls khi nhớ về quá khứ oanh liệt.
“Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”
Hơn thế nữa,ta còn thấy được hào khí của quân ta trong trận chiến Bạch Đằng thông qua lời kể của các bô lão thật hào hùng và lớn mạnh qua phần bình:
“Thuyền bè muôn đội,tinh kỳ phấp phới,
Hùng hổ sáu quân,giáo gươm sáng chói.”

“Khác nào như khi xưa:
Trận Xích Bích quân Tào Tháo tan tác tro bay,
Trận Hợp Phì giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi.”
Qua đó,ta thấy được những chiến công vĩ đại ấy được kể bằng giọng văn gấp gáp,khẩn trương, tái hiện được khí thế hào hùng,mang âm hưởng của bản anh hùng ca tràn đầy niềm tự hào. Lời kể của các bô lão đã nhấn mạnh được chiến thắng vẻ vang của quân dân ta và sự thất bại thảm hại của kẻ thù.
Từ đó,tg còn bàn về nguyên nhân của cuộc thắng lợi:
“Quả là:Trời đất cho nơi hiểm trở,
Cũng nhờ: Nhân tài giữ cuộc điện an.”
Theo các bô lão,thì nhân dân ta chiến thắng không chỉ nhờ địa thế hiểm trở mà còn có nhiều người tài.1 trong những nhân tài kiệt xuất thời bấy giờ là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Cuối cùng,tg kết thúc bài phú bằng 2 lời ca. Đầu tiên là lời của các bô lão :
“Sông Đằng 1 dải dài ghê,
Luồng to sóng lớn dồn về biển Đông.
Những người bất nghĩa tiêu vong,
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh.”
Những lời ca của bô lão cũng khẳng định được 1 triết lý vững chắc:người bất nghĩa sẽ bị diệt vong,còn anh hùng thì sẽ được lưu danh muôn thuở
Không những thế, đến đây,khách cũng nối tiếp mà ca ngợi rằng:
“Anh minh hai vị thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.


Giặc tan muôn thuở thăng bình.
Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao.”
Tg đã ca ngợi sự anh minh của vua Trần-là người có đức cao,luôn đặt quyền lợi của quốc gia lên trên quyền lợi của cá nhân.Như vậy,ta có thể thấy được nguyên nhân thắng lợi của quân ta phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố,trong đó vẫn không thể thiếu được những nhân tài và người lãnh đạo có đức cao luôn biết lo cho dân,cho nước…
Qua những hoài niệm về quá khứ, “Bạch Đằng giang phú” đã thể hiện lòng yêu nước,niềm tự hào dân tộc trước chiến công trên sông Bạch Đằng, đồng thời ca ngợi truyền thống anh hùng bất khuất,truyền thống đạo lý nhân nghĩa ngàn đời của dân tộc Việt Nam.Tác phẩm cũng chứa đựng tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc đề cao vai trò,vị trí của con người trong lịch sử.
Nhìn trở lại toàn bộ bài phú,ta thấy “Bạch Đằng giang phú”là đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại Việt Nam.Tác giả đã kể,miêu tả về cảnh sông Bạch Đằng,thiên nhiên 1 cách sinh động,chân thật,có tính trữ tình cao,xen lẫn với lời kể là những cảm xúc,những hoài niệm về quá khứ oanh liệt. Bài phú mang đậm chất sử thi hoành tráng sử dụng nhiều điển tích, điển cố chọn lọc,giàu sức gợi,những câu văn ngắn dài,phần cuối xen vào những câu thơ làm nên âm điệu hào hùng và rất trữ tình cho tác phẩm.Với nghệ thuật sắp xếp ngôn từ gây âm hưởng đa dạng, vừa khoan thai thoắt đã trở nên gấp gáp, rồi lại trở lại khoan thai, và cả bằng sự sinh động của nhịp điệu... mấy trăm năm qua bài phú đã chiếm lĩnh trọn vẹn tâm hồn người đọc.
Đây là tác phẩm không chỉ nổi tiếng thời Trần mà còn là 1 trong những bài phú viết bằng chữ Hán hay vào bậc nhất nước ta thời trung đại.Bài phú chứa chan lòng tự hào dt,vừa đọng 1 nỗi đau hoài cổ và có tư tưởng triết lý sâu sắc. Sau khi đọc xong tác phẩm,ta có thể khẳng định rằng “Phú sông Bạch Đằng” là đình cao nghệ thuật của thể phú trong văn học trung đại VN
----10A8----THÙY DƯƠNG

VÀI NÉT VỀ THỂ CÁO

- Cáo là thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết
- Trong thể cáo, có loại văn cáo thường ngày như chiếu sách của vua truyền xuống về một vấn đề nào đó, có loại văn đại cáo mang ý nghĩa một sự kiện trọng đại, có tính chất quốc gia.
- Cáo có thể được viết bằng văn xuôi hay văn vần nhưng phần nhiều được viết bằng văn biền ngẫu, không có vần hoặc có vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai vế đối nhau
- Cáo là thể văn hùng biện, do đó lời lẽ phải đanh thép, lí luận phải sắc bén, kết cấu phải chặt chẽ, mạch lạc. Tác phẩm tiêu biểu: "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi

Vắn tắt cuộc đời Nguyễn Trãi

- Nguyễn Trãi (1380-1442), hiệu là Ức Trai, quê gốc ở làng Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương), sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây). Gia đình bên nội cũng như bên ngoại đều có truyền thống yêu nước và văn hóa, văn học.
- Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, là nhân vật toàn tài hiếm có nhưng lại là người chịu những oan khiên thảm khốc dưới thời phong kiến.
- Ông là nhà thơ, nhà văn kiệt xuất, là danh nhân văn hóa thế giới, có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của văn hóa, văn học dân tộc.
- Tác phẩm tiêu biểu:
+ Văn chính luận: Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập…
+ Thơ : Quốc âm thi tập (Chữ Nôm), Ức Trai thi tập (Chữ Hán) …

9 thg 4, 2010

Câu hỏi về "Truyện Kiều"

5/ Nêu vài nét về sự sáng tạo của Nguyễn Du khi viết Truyện Kiều:
Nguyễn Du viết Truyện Kiều dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Trên cơ sở cốt truyện, nhân vật có sẵn, Nguyễn Du đã có những sáng tạo lớn về nhiều mặt.
+ Về nội dung, ông đã biến một câu chuyện “tình khổ” thành khúc ca đau lòng thương người bạc mệnh, tác phẩm nói lên “những điều trông thấy” trong giai đoạn lịch sử biến động cuối Lê – đầu Nguyễn.
+ Về nghệ thuật, Nguyễn Du đã dụng công lược bỏ các chi tiết về mưu mẹo, sự báo oán tàn nhẫn và một số chi tiết dung tục trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân.
- Ông còn thay đổi thứ tự kể và sáng tạo thêm một số chi tiết để tạo ra thế giới nhân vật sống động như thật.
- Ngoài ra, ông còn biến những sự kiện chính của tác phẩm thành đối tượng để bộc lộ cảm xúc, tình cảm của nhân vật và người kể.
- Bên cạnh đó, việc chuyển trọng tâm của truyện từ kể sang biểu hiện nội tâm càng làm cho các nhân vật sống động và sâu sắc hơn.
+ Về thể loại, Nguyễn Du đã kế thừa các truyền thống nghệ thuật của truyện Nôm, ngâm khúc, thơ trữ tình và ca dao để sáng tạo ra một truyện thơ giàu chất tiểu thuyết và ngôn ngữ.
Có thể nói, Truyện Kiều là kết tinh rực rỡ của văn học Việt Nam, là niềm tự hào không bao giờ vơi cạn của ngôn ngữ văn học Tiếng Việt đồng thời trở thành một di sản to lớn của văn học nhân loại.
6/ Nêu vài nét về giá trị nội dung của Truyện Kiều:
Trong văn học trung đại Việt Nam, Truyện Kiều là tác phẩm có giá trị hiện thực, thể hiện một tư tưởng nhân đạo sâu sắc, giàu tính chiến đấu.
+ Truyện Kiều là bài ca về tình yêu tự do và ước mơ công lí
+ Truyện Kiều là tiếng khóc đứt ruột cho số phận con người.
+ Tác phẩm còn là bản cáo trạng đanh thép đối với các thế lực đen tối chà đạp lên quyền lợi chính đáng của con người.
+ Truyện Kiều là tiếng nói “hiểu đời”, hiểu người.
Qua Truyện Kiều, Nguyễn Du đã thể hiện thái độ quyết liệt của ông đối với hiện thực và thời đại đồng thời cho thấy được nét cao đẹp trong tâm hồn của một nhà thơ nhân đạo.
7/ Nêu vài nét về giá trị nghệ thuật của Truyện Kiều:
Truyện Kiều là kết tinh của tài năng bậc thầy và truyền thống văn học dân tộc, là đỉnh cao chói lọi của thể loại truyện Nôm.
+ Nghệ thuật tiêu biểu trong Truyện Kiều là xây dựng nhân vật sống động, có tính điển hình cao.
+ Truyện Kiều là mẫu mực của nghệ thuật tự sự và trữ tình bằng thơ lục bát.
+ Tiếng Việt trong Truyện Kiều là một ngôn ngữ trong sáng, trau chuốt, giàu sức biểu cảm, sáng tạo.
Qua Truyện Kiều, Nguyễn Du đã làm cho tiếng Việt văn học đạt đến trình độ cổ điển, tạo thành giá trị văn chương bất hủ muôn đời.

Câu hỏi về Nguyễn Du

1/ Nêu sơ lược về tiểu sử cuộc đời Nguyễn Du:• Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên (1765 – 1820), quê ở tỉnh Hà Tĩnh.
• Ông xuất thân trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan, có truyền thống văn học.
• Nguyễn Du sống trong thời đại đầy biến động dữ dội.
• Nguyễn Du đã sống một cuộc đời bi kịch. Xuất thân trong gia đình giàu sang nhưng cuộc sống lại lưu lạc, tha hương. Bi kịch lớn nhất của ông là phải chấp nhận cuộc đời triền miên buồn chán, không có một hoạt động say sưa và nhất quán vì lí tưởng nào cả.
• Nói chung, Nguyễn Du nhìn đời với con mắt của một người đứng giữa dông tố cuộc đời và điều đó khiến tác phẩm của ông hàm chứa một chiều sâu hiện thực và nhân đạo chưa từng có trong thơ văn Việt Nam.
2/ Nêu sơ lược về các tác phẩm chính của Nguyễn Du:
Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, ông đã để lại nhiều thành tựu kiệt xuất về văn chương:
+ Về thơ chữ Hán, Nguyễn du có ba tập thơ: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục.
+ Về thơ chữ Nôm, ông có hai kiệt tác Truyện Kiều và Văn tế thập loại chúng sinh.
Nói chung, các tác phẩm của Nguyễn Du đều rất đặc sắc, ở thể loại nào ông cũng đạt được sự hoàn thiện ở trình độ cổ điển.
3/ Nêu sơ lược về đặc điểm nội dung tác phẩm của Nguyễn Du:• Nguyễn Du là nhà thơ có khuynh hướng hiện thực sâu sắc.
+ Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là nhật kí đời sống, nhật kí tâm hồn, phản ánh chân thực hiện thực cuộc sống.
+ Nhà thơ còn bày tỏ thái độ mỉa mai và lên án xã hội bất công, đen tối.
• Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo vĩ đại.
+ Toàn bộ sáng tác của ông là sự quan tâm sâu sắc tới thân phận con người, đặc biệt là những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh.
+ Đặc biệt, chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du lấy sự khẳng định cuộc sống hạnh phúc trần gian làm nền tảng, đề cao quyền được yêu, được sống của con người, tình thương và lòng đồng cảm của ông đã bao trùm hết mọi kiếp người.
+ Ông còn hết lòng ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người.
Có thể nói, Nguyễn Du đã vượt qua những ràng buộc của ý thức hệ phong kiếnvà tôn giáo để vươn tới khẳng định giá trị tự thân của con người. Đó là tư tưởng sâu sắc nhất mà nhà thơ đem lại cho văn học Việt Nam trong thời của ông.
4/ Nêu sơ lược về đặc điểm nghệ thuật tác phẩm Nguyễn Du:
Về nghệ thuật, ông là người kết tinh những thành tựu văn học chữ Hán và chữ Nôm của dân tộc.
+ Thơ chữ Hán thể hiện những suy nghĩ sâu sắc của ông về thời đại, giản dị mà tinh luyện, tài hoa, xứng đáng là tác phẩm của một cây đại bút.
+ Về thơ Nôm, Nguyễn Du sử dụng tài tình hai thể thơ dân tộc lục bát và song thất lục bát. Ông đã làm mới ngôn ngữ văn học Tiếng Việt.
+ Trong nghệ thuật tự sự, Nguyễn Du đã tổng hợp cá thể loại văn học trước đó, đổi mới thể loại truyện Nôm, nâng tác phẩm lên hàng tiểu thuyết bằng thơ, làm tăng cường chất thơ cho tự sự.
Nói tóm lại, hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Du đều mang những nét nghệ thuật rất đặc sắc, ông xứng đáng là nhà thơ vị trí hàng đầu của nền văn học trung đại Việt Nam.

11 thg 1, 2010

Ôn KTC đợt 3

NỘI DUNG VÀ CẤU TRÚC ĐỀ KIỂM TRA CHUNG ĐỢT 3 2009-2010

Môn Ngữ Văn 10

Ban nâng cao

Thuyết minh về tác giả (2đ) (gợi ý kiến thức tối thiểu cần đạt)
Trương Hán Siêu
Trương Hán Siêu (?-1354) tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh, Ninh Bình.
Ông là môn khách của Trần Hưng Đạo, tham gia kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, làm quan dưới bốn đời vua Trần (Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông). Các vua Trần rất kính trọng Trương Hán Siêu, thường gọi ông là “thầy”.
Do có tài đức nên khi mất ông được thờ ở Văn Miếu (Hà Nội)
Tác phẩm của ông hiện còn lại bốn bài thơ và ba bài văn,trong đó có “ Bạch Đằng giang phú “ là tác phẩm đặc sắc của VH trung đại Việt Nam.

Hoàng Đức Lương
- Hoàng Đức Lương (chưa rõ năm sinh năm mất), người làng Cửu Cao, huyện Văn Giang, nay thuộc tỉnh Hưng yên, sau chuyển đến làng Ngọ Kiều, Gia Lâm, Hà Nội.

- Ông đỗ tiến sĩ năm 1478, Ông sưu tầm, tuyển chọn tác phẩm của các tác giả từ thời Trần đến đầu thời Lê, biên soạn thành Trích diễm thi tập và hoàn thành Trích diễm thi tập năm 1497. Tập thơ gồm 6 quyển, phần cuối là bài tựa trình bày lí do ra đời và quá trình hình thành của cuốn Trích diễm thi tập.

Lí Bạch
Lí Bạch (701 – 762), tự là Thái Bạch, quê ở tỉnh Cam Túc. Ông lớn lên ở Tứ Xuyên, tính tình hào phóng, thích giao lưu bạn bè và ngao du thưởng ngọan phong cảnh.
Năm 25 tuổi LB rời quê hương đi tìm đường thực hiện hoài bão, ước mơ, những mong dân chúng được yên vui, “đất nước thanh bình”. Ông làm việc ở viện hàn lâm, do thất vọng triều đình, chỉ sau ba năm LB đã ra đi tiếp tục cuộc ngao du sơn thủy. Ông mất vì bệnh, để lại trên 1000 bài thơ.
- Ông là một nhà thơ lãng mạn lớn, có nhiều bài thơ nổi tiếng viết về đề tài thiên nhiên, chiến tranh, tình yêu, tình bạn. Âm hưởng chủ đạo trong thơ ông là tiếng nói yêu đời, lạc quan hào phóng dù bên cạnh vẫn còn một số tác phẩm có vài nét tiêu cực như tư tưởng hành lạc, cầu tiên học đạo.

- LB đã có những sáng tạo mới mẻ, táo bạo trong việc xây dựng hình ảnh, tứ thơ cũng như trong việc sử dụng thể thơ và ngôn từ.” Tại lầu Hoàng hạc tiễn Mạch Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” được xem là bài thơ hay nhất trong đề tài tiễn biệt của Ô.

d. Đỗ Phủ

- ĐP (712-770) quê ở huyện Củng, tỉnh Hà Nam, xuất thân trong gia đình có truyền thống nho học và thơ ca lâu đời. Ô là nhà thơ hiện thực lớn nhất không chỉ của thời Đường mà của cả lịch sử thơ ca cổ Trung Quốc. Thơ ông còn được gọi là thi sử.

- Ô bắt đầu làm thơ khi nhà Đường còn phồn vinh, song sáng tác chủ yếu trong và sau cuộc cuộc binh biến An Lộc Sơn lúc đất nước Trung Quốc chìm ngập trong cảnh loạn li. ĐP có làm vài chức quan nhỏ trong một thời gian ngắn. Trong mười một năm cuối đời Ô đưa gia đình đi lánh nạn khắp các vùng thuộc các tỉnh phía tây nam Trung Quốc (Cam Túc, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam)

- Nhà thơ qua đời trong đói rét bệnh tật trên một chiếc thuyền, để lại cho hậu thế khoảng 1500 bài thơ. Năm 1962 hội đồng hòa bình thế giới tổ chức kỉ niệm 1250 năm năm sinh của ông.

- Tp tiêu biểu: Binh xa hành, Lệ nhân hành, Tam biệt, Thu hứng…

Thuyết minh về thể loại văn học: (2đ)
Phú: Phú vốn là thể văn Trung Quốc, thịnh hành vào thời Hán, dùng lối văn có nhịp điệu, nhằm miêu tả, trình bày sự vật để biểu hiện tư tưởng tình cảm của tác giả. Phú có bốn loại chính: cổ phú, bài phú, luật phú và văn phú.
Cổ phú thường dùng hình thức “chủ - khách đối đáp”, không đòi hỏi đối, cuối bài thường được kết lại bằng thơ.

Bài phú là phú dùng hình thức biền văn, câu văn 4 chữ, 6 chữ, 8 chữ sóng đôi với nhau.

Luật phú là phú thời Đường, chú trọng đến đối; vần hạn chế, gò bó.

Văn phú là Phú thời Tống, tương đối tự do có dùng câu văn xuôi.
TPTB: Phú sông Bạch Đằng - Trương Hán Siêu
Phú núi Chí Linh - Nguyễn Trãi

Cáo:
-Là tên gọi thể văn có nguồn gốc từ Trung Quốc cổ xưa. Sau này vua chuyên dùng thể cáo để công bố những việc trọng đại của đất nước với muôn dân.
-Cáo thường được viết bằng văn biền ngẫu. không có vần hoặc có vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai vế đối nhau. Cũng như hịch, cáo là thể văn hùng biện, do đó lời lẽ phải đanh thép, lí luận phải sắc bén, kết cấu phải chặt chẽ, mạch lạc
-TPTB: Đại cáo ( bài cáo cổ xưa nhất của TQ)
Bình Ngô Đại Cáo (Nguyễn Trãi)

Tựa:
-là bài văn thường được đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lý, hội họa, âm nhạc… nhằm giới thiệu mục đích, nội dung quá trình hình thành và kết cấu của tác phẩm ấy.
- Bài tựa có thể do tác giả tự viết, cũng có thể do một ai đó vì yêu quý mến mộ tác phẩm mà viết. Cuối bài tựa thường ghi họ tên, chức tước của người viết và ngày tháng địa điểm làm bài tựa. Người ta gọi phần này là lạc khoản.
-Ngoài các nội dung trên, riêng bài Tựa “Trích diễm thi tập” còn cho biết về thời đại, về quan niệm văn chương của tác giả. Văn của thể tựa có tính chất thuyết minh, thường kết hợp với nghị luận và tự sự, có khi còn mang sắc thái trữ tình.

Thuyết minh về tác giả, tác phẩm văn học (6 điểm)
(gợi ý kiến thức tối thiểu cần đạt)

a. Tác gia Văn học

Đề tài: Thuyết minh về một tác gia văn học “Nguyễn Trãi”
Kết cấu văn bản theo trật tự logic trật tự thời gian.
Cấu trúc 3 phần
+ Phần 1: nêu vấn đề -> Giới thiệu chung và nhận định về giá trị và ảnh hưởng của Nguyễn Trãi

+ Phần 2: Giới thiệu chi tiết về Nguyễn Trãi

Sơ lược tiểu sử, cuộc đời.
sự nghiệp sáng tác thơ văn
Tác phẩm tiêu biểu

Nội dung tác phẩm

vị trí ảnh hưởng của tác gia đối với lịch sử văn học
+ Phần 3: Khẳng định đóng góp và vị trí của Nguyễn trãi đối với văn hoá Việt Nam.

Tác phẩm văn học

b. Tác phẩm văn học

Đề tài Thuyết minh một tác phẩm văn học: “Đại cáo bình Ngô”
Kết cấu văn bản theo trật tự logic và trật tự thời gian.
Vị trí tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác
Thể loại tác phẩm
Nhan đề
giới thiệu nội dung và nghệ thuật tác phẩm
Nêu luận đề chính nghĩa
Tố cáo tội ác quân Minh
Chủ đề
Nghệ thuật
Khẳng định giá trị của tác phẩm
vị trí của tác phẩm trong sự nghiệp sáng tác của tác giả.
Đánh giá chung.
Đề tài: Thuyết minh tác phẩm: “Bạch Đằng giang phú”
Kết cấu văn bản theo trật tự logic và trật tự thời gian.
Tác giả, xuất xứ
thể loại tác phẩm
giới thiệu nội dung và nghệ thuật tác phẩm
Thú du ngoan và cảm xúc của nhân vật “khách”
Những chiến công vĩ đại của quân ta trên sông Bạch Đằng và sự thất bại thảm hại của kẻ thù qua lời kể của các bô lão.
lời ca về sông Bạch Đằng.
Chủ đề
Đánh giá
Nội dung, nghệ thuật
Đánh giá chung