Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn Ca dao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ca dao. Hiển thị tất cả bài đăng

31 thg 10, 2010

Thân em như tấm lụa đào...

Cảm nhận được tiếng hát than thân và lời ca yêu thương tình nghĩa của người bình dân trong xã hội phong kiến qua nghệ thụât đậm màu sắc dân gian của ca dao là những gì ca dao than thân đạt được. Hai câu ca dao
” Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai “

“Thân em như củ ấu gái
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen
Ai ơi,nếm thử mà xem
Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi “
thể hiền rõ cuộc đời còn nhiều xót xa của thân phận phụ nữ trong xã hội xưa.

“Thân em như tấm lụa đào.
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai “.
Câu ca dao này là lời than thân của một cô gái tự ví mình như tấm lụa đào.Từ “ thân em” thường gợi về số phận hẩm hiu,bấp bênh,nhỏ bé,bằng từ “thân em” bài thơ đã giới thiệu cho người đọc được nhân vật trữ tình có lẽ là một cô gái trẻ trung nên cô tự ví mình như “ tấm lụa đào” “phất phơ giữa chợ”rồi “ biết vào tay ai “Hình ảnh ẩn dụ “tấm lụa đào “ gợi liên tưởng đến hình ảnh một cô gái vừa có vẻ đẹp hình thức, đẹp người đẹp nết nhưng lẽ ra với một người đẹp nết như vậy thì phải có một cuộc sống sung sướng nhưng cô gái trong bài thơ này không chắc chắn được số phận của mình sẽ trôi dạt về đâu,sẽ “ vào tay ai “.Tác giả còn sử dụng từ gợi hình “phất phơ” để gợi tả 1 vẻ mềm mại của tấm lụa,vừa gợi liên tưởng đến số phận long đong của người phụ nữ trong xã hội xưa.”Phất phơ giữa chợ..tay ai” thực chất lại là một lời than về thân phận sẽ không biết đi về đâu của mình.Cô gái mặc dù rất tự hào về phẩm chất,tài năng,vẻ đẹp của mình nhưng lại không quyết định được số phận của mình.

Cũng mang ý nghĩa về thân phận của người phụ nữ trong xã hội xưa.
“Thân em như củ ấu gai.
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen .
Ai ơi,nếm thử mà xem!
Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi “
Mở đầu bằng một câu quen thuộc của ca dao Việt Nam “ Thân em…củ ấu gai “ .Cô gái trong câu ca dao này lại tự ví mình như củ ấu đen cũng để than thân trách phận.Bên ngoài thì xấu xí,nhưng bên trong lại có màu trắng nõn .Tác giả đã sử dụng một bạt những từ ngữ,hình ảnh đối lập nhau. Ruột trắng liên tưởng đến tâm hồn còn hình ảnh “ vỏ ngoài thì đen “ nói về hình thức bên ngoài.Hai hình ảnh đối lập nhau làm nổi bật hơn vẽ đẹp tâm hồn được ẩn dấu bên trong và tất nhiên phải qua một quá trình tìm hiểu để biết được rằng bên trong tâm hồn lại ẩn chứa những điều không ngờ được,trong trắng không như vẻ xù xì bên ngoài của củ ấu gai.Thông qua hình ảnh so sánh,ta có thể cảm nhận được nhân vật trữ tình là một cô gái không được mặn mà về nhan sắc cho lắm nhưng lại có vẻ đẹp tâm hồn, đạo đức và tài năng.
Qua 2 câu ca dao than thân,ta thấy được thân phận của người phụ nữ thời xưa,không quyết định được số phận của mình cũng như không có được nhan sắc đẹp nhưng ẩn hiện bên trong tâm hồn lại là một vẻ đẹp thầm kín.2 câu ca dao còn thể hiện được niềm chua xót, đắng cay được bộc lộ chân tình và sâu sắc qua chùm ca dao than thân

30 thg 10, 2010

Ca dao tình nghĩa

Tên: Nguyễn Hương Giang
Lớp: 10A8
STT: 09
Ca dao yêu thương tình nghĩa
Tình yêu nam nữ là đề tài chiếm số lượng lớn trong ca dao, dân ca. Tình yêu nam nữ được thể hiện trong ca dao gắn liền với những hình ảnh quen thuộc của nông dân Việt Nam, gắn liền với công việc lao động hằng ngày trong cuộc sống của người dân quê:
Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta nghĩa nặng tình dày
Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.
Câu ca dao trên đã thể hiện khát vọng được sống tình nghĩa thủy chung của vợ chồng.
Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng vẫn còn cay
“Muối mặn”, “gừng cay” tượng trưng cho tình nghĩa của con người, là biểu tượng cho sự gắn bó, tình cảm mặn nồng của vợ chồng dành cho nhau. Khoảng thời gian ba năm chín tháng là một khoảng thời gian không nhỏ nhưng tình nghĩa vợ chồng giữa họ vẫn không hề thay đổi. Điệp từ “còn” nhấn mạnh tình cảm vợ chồng không hề thay đổi theo thời gian. Mặc dù xa cách nhưng họ vẫn luôn nhớ về nhau.
Đôi ta nghĩa nặng tình dày
Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.
Hai câu cuối có số lượng dài hơn hai câu trên với lối nói trùng điệp kết hợp với cách nói mang ý nghĩa sâu sắc. câu thơ cuối có đến mười ba âm tiết như góp phần khẳng định tấm lòng thủy chung sâu sắc, đậm đà tình nghĩa của người dân. Bài ca dao được viết theo thể thơ lục bát đã được biến thể, là lời khẳng định vẻ đẹp tâm hồn, lối sống tình nghĩa, thủy chung của người Việt Nam. Những bài ca dao yêu thương tình nghĩa có giá trị hiện thực sâu sắc, đề cập đến hiện thực phản ảnh xã hội một cách hình tượng. Ước muốn của người dân được bộ lộ một cách tinh tế và rõ rang. Bài ca đạt đến trình độ nghệ thuật cao trong việc bộc lộ tình cảm, sự thủy chung của người dân Việt Nam.
Ca dao yêu thương tình nghĩa không chỉ bày tỏ khát vọng yêu thương và được yêu thương mà còn phản ảnh vẻ đẹp tâm hồn của con người bình dân xưa.

Thân em như ....

Tên:Huỳnh Ngọc Minh Thư STT:36
Lớp : 10a8

Đề bài : Cảm nhận tác phẩm trữ tình “ Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

“Thân em như củ ấu gai
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen
Ai ơi,nếm thử mà xem
Nếm ra ,mới biết rằng em ngọt bùi”
Bài làm
Cảm nhận được tiếng hát than thân và lời ca yêu thương tình nghĩa của người bình dân trong xã hội phong kiến qua nghệ thụât đậm màu sắc dân gian của ca dao là những gì ca dao than thân đạt được.Câu ca dao” Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai “
“Thân em như củ ấu gái
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen
Ai ơi,nếm thử mà xem
Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi “thể hiền rõ cuộc đời còn nhiều xót xa của thân phận phụ nữ trong xã hội xưa.
“Thân em như tấm lụa đào. Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai “.Câu ca dao này là lời than thân của một cô gái tự ví mình như tấm lụa đào.Từ “ thân em” thường gợi về số phận hẩm hiu,bấp bênh,nhỏ bé,bằng từ “thân em” bài thơ đã giới thiệu cho người đọc được nhân vật trữ tình có lẽ là một cô gái trẻ trung nên cô tự ví mình như “ tấm lụa đào” “phất phơ giữa chợ”rồi “ biết vào tay ai “
Hình ảnh ẩn dụ “tấm lụa đào “ gợi liên tưởng đến hình ảnh một cô gái vừa có vẻ đẹp hình thức, đẹp người đẹp nết nhưng lẽ ra với một người đẹp nết như vậy thì phải có một cuộc sống sung sướng nhưng cô gái trong bài thơ này không chắc chắn được số phận của mình sẽ trôi dạt về đâu,sẽ “ vào tay ai “.Tác giả còn sử dụng từ gợi hình “phất phơ” để gợi tả 1 vẻ mềm mại của tấm lụa,vừa gợi liên tưởng đến số phận long đong của người phụ nữ trong xã hội xưa.”Phất phơ giữa chợ..tay ai” thực chất lại là một lời than về thân phận sẽ không biết đi về đâu của mình.Cô gái mặc dù rất tự hào về phẩm chất,tài năng,vẻ đẹp của mình nhưng lại không quyết định được số phận của mình.
Cũng mang ý nghĩa về thân phận của người phụ nữ trong xã hội xưa. “Thân em như củ ấu gai.Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen .Ai ơi,nếm thử mà xem! Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi “Mở đầu bằng một câu quen thuộc của ca dao Việt Nam “ Thân em…củ ấu gai “ .Cô gái trong câu ca dao này lại tự ví mình như củ ấu đen cũng để than thân trách phận.Bên ngoài thì xấu xí,nhưng bên trong lại có màu trắng nõn .Tác giả đã sử dụng một bạt những từ ngữ,hình ảnh đối lập nhau. Ruột trắng liên tưởng đến tâm hồn còn hình ảnh “ vỏ ngoài thì đen “ nói về hình thức bên ngoài.Hai hình ảnh đối lập nhau làm nổi bật hơn vẽ đẹp tâm hồn được ẩn dấu bên trong và tất nhiên phải qua một quá trình tìm hiểu để biết được rằng bên trong tâm hồn lại ẩn chứa những điều không ngờ được,trong trắng không như vẻ xù xì bên ngoài của củ ấu gai.Thông qua hình ảnh so sánh,ta có thể cảm nhận được nhân vật trữ tình là một cô gái không được mặn mà về nhan sắc cho lắm nhưng lại có vẻ đẹp tâm hồn, đạo đức và tài năng.
Qua 2 câu ca dao than thân,ta thấy được thân phận của người phụ nữ thời xưa,không quyết định được số phận của mình cũng như không có được nhan sắc đẹp nhưng ẩn hiện bên trong tâm hồn lại là một vẻ đẹp thầm kín.2 câu ca dao còn thể hiện được niềm chua xót, đắng cay được bộc lộ chân tình và sâu sắc qua chùm ca dao than thân

28 thg 10, 2010

Ca dao than thân

CẢM NHẬN TÁC PHẨM TRỮ TÌNH:

ĐỀ TÀI: cảm nhận bài ca dao than thân
Bài làm
Trong cuộc sống xã hội phong kiến ngày xưa, con người đã phải trải qua biết bao nỗi niềm chua xót, đắng cay nhưng không vì thế mà vẻ đẹp tâm hồn của người xưa mất đi, thay vào đó họ lại gửi gắm những nỗi niềm, nỗi oan ức vào từng lời thơ, lời ca dao bộc lộ sâu sắc hết nỗi chân tình của mình. Mà nỗi bật hơn hết là những lời ca dao than thân:
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
....
Thân em như củ ấu gai
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen.
Ai ơi, nếm thử mà xem!
Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.
Ca dao diễn tả đời sống tâm hồn, tư tưởng tình cảm của nhân dân trong các mối quan hệ xã hội. Ca dao là tiếng nói cất lên từ cuộc đời còn nhiều xót xa, đắng cay nhưng đằm thắm ân tình của người bình dân xưa. Hai lời ca dao trên là lời than thân của người phụ nữ trong xã hội xưa, nó như gợi lên cả một cuộc đời còn đầy đắng cay của một con người.Cuộc đời của người phụ nữ không mấy thanh bình mà chính họ cũng không thể tự quyết định được số phận cho mình.Bài ca dao được viết ở thể thơ lục bát vô cùng ngắn gọn nhưng thể hiện rõ tâm trạng của nhân vật cũng như cảm xúc của tác giả.
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
Bài ca dao trên là lời than thân của một cô gái tự ví mình như tấm lụa đào. Từ “thân em” đã gợi lên những liên tưởng về số phận hẫm hiu, nhỏ bé, bấp bênh của một cô gái bị đàn áp, bốc lột ,còn từ “như” một hình ảnh so sánh đã được gợi lên thể hiện nỗi niềm và tâm trạng của cô gái, cô không chắc được hạnh phúc của mình sẽ vào tay ai. Bên cạnh đó từ láy “phất phơ”vừa gợi lên một hình ảnh liên tưởng về số phận long đong của người phụ nữ xưa vừa gợi được vẻ đẹp mềm mại của tấm vải lụa đào nhưng thật chất đó là một lời than thân, với biện pháp tu từ câu ca dao đã thật sự đưa người đọc cảm nhận được hình ảnh của một cô gái tự hào về tài năng và vẻ đẹp của bản thân nhưng không có quyền quyết định số phận của chính mình. Chính hình ảnh “phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” một lần nữa lại làm rõ nét hơn nỗi niềm chua xót, đắng cay, ngậm ngùi về số phận của bản thân cô gái nói riêng và người phụ nữ VIỆT NAM xưa nói chung.Câu ca dao trên kết hợp những từ ngữ giàu hình ảnh cùng với biện pháp tu từ, so sánh, ẩn dụ đã làm nổi bật phâm chất và tính cách cũng như diễn biến tâm lí của nhân vật. Cũng chính những chi tiết tiêu biểu ấy đã làm ngừơi đọc cảm nhận một cách sâu sắc và chân thành nỗi khổ mà cô gái phải chịu đựng, qua thái dộ và tình cảm của tác giả cũng đã nói lên một phần nào về cuộc sống khắc nghiệt của ngừơi phụ nữ xưa nhưng vẫn luôn giữ được vẻ đẹp tâm hồn.
Thân em như củ ấu gai
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen.
Ai ơi, nếm thử mà xem!
Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.
Khác với bài ca dao trên bài ca dao này là lời than thân của một cô gái tự ví mình như củ ấu đen. “Thân em” là từ gợi liên tưởng đến số phận hẫm hiu, nhỏ bé mà nhân vật phải chịu đựng. “Thân em như củ ấu gai” là lời nói của cô gái tự ví mình như củ ấu có hình thức bên ngoài xấu xí, với lối dùng từ ngữ so sánh “ như” đã làm rõ hình ảnh của một cô gái có một vẻ bề ngoài không được đẹp, nhưng với cách dùng từ đối lập về những hình ảnh: trắng, đen , trong , ngoài,…Câu ca dao đã được làm nổi bật bởi hai vế đối cho ta thấy được hình ảnh về một vẻ đẹp tâm hồn của một cô gái. Củ ấu tuy có bề ngoài xấu xí nhưng bên trong lại rất ngọt bùi, muốn biết nó như thế nào ta phải nếm thử hương vị của nó cũng như đối với cô gái ta không chỉ xét vẻ bề ngoài mà muốn biết ta phải trải qua một quá trình tìm hiểu. Muốn biết rõ một người nào đó ta phải tìm hiểu thậ kĩ chứ không phải chỉ xét qua vẻ bề ngoài mà đánh giá người khác. Thông qua những hình ảnh so sánh ,ẩn dụ, từ ngữ hình ảnh đối lập, bài ca dao đã cho ta cảm nhận được một cô gái có hình thức không được mặn mòi nhưng lại có vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất đạo đức và tài năng đáng quý.
Kết hợp của cả hai bài là những hình ảnh nghệ thuật vô cùng đặc sắc như : ẩn dụ, so sánh, hình ảnh đối lập , từ láy,…Đã thể hiện rõ nội dung mà qua bài ca dao muốn gửi gắm đến ngừơi đọc một cái nhìn toàn vẹn về cuộc sống, nổi niềm và thân phân của ngừơi phụ nữ trong xã hội VIỆT NAM xưa. Tuy những người phụ nữ xưa phải chịu nhìu đắng cay nhưng họ vẫn luôn giữ được những phẫm chất đáng quý của bản thân, luôn khao khát có được một cuộc sống hạnh phúc và tự do.
Lời ca dao tuy ngắn nhưng đã bộc lộ hết những tâm trạng của nhân vật, thể hiện hết những suy nghĩ và cảm xúc mà tác giả gửi gắm. Bài ca dao được thể hiện dưới hình thức lục bát, với ngôn ngữ gần gũi, hình ảnh sinh động, lối viết giàu chất thơ. Đặc biệt giàu hình ảnh so sánh ,ẩn dụ cùng với lối diễn đạt bằng một số công thức mang đậm sắc thái dân gian. Có sự mới mẻ , độc đáo về ý tưởng, có giá trị giáo dục cao, khái quát được giá trị nhận thức cũng như tư tương tình cảm của con người, đồng thời thể hiện niềm chua xót , đắng cay và tình cảm yêu thương của con người trong xã hội cũ, bộc lộ chân tình và sâu sắc qua những câu ca dao than thân trên, đã tô đậm thêm vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ VIỆT NAM trong xã hội xưa.
Qua hai bài ca dao than thân trên, đã cho ta thấy được một phần nào về xã hội phong kiến xưa, một xã hội với đầy những đắng cay, khắc nghiệt nhưng lại làm nổi bật lên hình ảnh người phụ nữ có nhiều phẩm chất và tài năng ,không bao giờ đầu hàng trước số phận, sống để vượt qua thử thách, luôn mơ ước và hy vong có một cuộc sống hạnh phúc.

TÊN: NGUYỄN LÊ NGỌC ÁNH _ STT: 02
LỚP: 10A8 _Năm học: 2010-2011

25 thg 10, 2009

Người VN rất trọng danh dự

Ca dao ra đời và tồn tại là để đáp ứng những nhu cầu bộc lộ tình cảm của nhân dân. Bên cạnh những bài ca về yêu thương tình nghĩa thì những lời than thở về cuộc đời đau khổ, đắng cay cũng là một đề tài rất tinh tế trong hệ thống ca dao dân ca Việt Nam. Đó là những lời than thân trách phận, tâm tư tình cảm của những con người lao động và họ đã mượn hình ảnh con cò để bày tỏ nỗi lòng của mình.“
Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
_ Ông ơi, ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong,
Chớ xáo nước đục, đau lòng cò con. “
Hai câu thơ đầu của bài ca dao miêu tả sơ lược hình ảnh con cò _ một hình ảnh quen thuộc,thân thương của làng quê Việt Nam. Cánh cò từ ngàn năm đã nhập vào tâm hồn tuổi thơ qua lời ru êm ái và dòng sữa ngọt dịu của mẹ.
“ Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. “
Theo lẽ tự nhiên, cò thường bay đi kiếm ăn vào buổi sáng nhưng trong bài ca dao, con cò tội nghiệp này phải rơi vào nghịch cảnh trái với lẽ thường : cò phải đi kiếm ăn vào ban đêm lạnh lẽo, cô độc.Cò không thể nhận biết được những khó khăn trước mắt, những tai nạn rủi ro mà mình sẽ gặp phải, mà vẫn chăm chỉ tìm kiếm thức ăn. Chẳng may “đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”, chú cò tội nghiệp gặp khó khăn. Những hình ảnh đó tượng trưng cho người nông dân Việt Nam hiền lành, chất phác, siêng năng,cần mẫn và phải trải qua biết bao vất vả, gieo neo.“
_ Ông ơi, ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng. “
Ba từ “ông”, hai từ “tôi” được lặp đi lặp lại như nốt nhấn bi thảm của bài ca. Cò mong “ông” cứu vớt, đoái thương. Tiếng kêu cứu nghe rất tha thiết, chân thành, tội nghiệp. Cò cất tiếng thanh minh cho hoàn cảnh trớ trêu của mình, rơi xuống ao là do tai nạn không phải có ý định xấu. Nó cũng nhu6 nói đến những bất hạnh, hoạn nạn của nhà nông xưa đứng trước mọi thế lực thống trị và áp bức trong xã hội : sưu cao thuế nặng, ách thống trị nặng nề… . “Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng“ là lời phân trần, thanh minh : cò đi ăn đêm nhưng không phải kẻ bất lương mà cò hiền lành,lương thiện. Hình ảnh ẩn dụ, là biểu tượng về người nông dân “một nắng hai sương”. Đó là những con người hiền lành, cần cù, lam lũ, chịu thương chịu khó. Ôi thương thay những con người “chân lấm tay bùn” xưa trên mảnh đất giàu tình nghĩa Việt Nam

Hai câu thơ tiếp theo, cò sợ người đời không tin mình nên đã nói :“
Có xáo thì xáo nước trong,Chớ xáo nước đục, đau lòng cò con. “
Hình ảnh ẩn dụ “nước trong”, “nước đục” đã gợi cho chúng ta biết cò là một người rất trọng danh dự. Nếu phải chết, cò muốn chết trong “nước trong” - chết trong danh dự chứ không phải là “nước đục” – một sự tượng trưng cho tai tiếng, nhục nhã và đầy hổ thẹn. Lời của cò còn thể hiện được những khao khát, những nỗi niềm khác nhau. Cò muốn được sống để có thể lo cho con, cho gia đình. Tiếng kêu của nó chân thành, gấp gáp giống như tiếng kêu của một sự cầu cứu. Dù sắp chết nhưng cò vẫn nghĩ đến lương tâm, trách nhiệm của mình đối với các thế hệ con cháu đời sau. Cò sợ đời sau xấu hổ, tuổi thân, phải mang tiếng xấu với đời. Qua lời cò, câu ca dao đã đề cập đến người bình dân Việt Nam rất trọng danh dự, luôn có trách nhiệm với thế hệ sau.
Bài ca dao ghi lại lời tâm sự của người bình dân xưa trong các hoàn cảnh sống. Lời tâm sự này bày tỏ thái độ phản kháng đầu tiên, phản ảnh ước mơ về một xã hội công bằng, người lao động được đối xử công bằng, tử tế hơn. Thông qua lời tâm sự này, bức tranh về hiện thực của cuộc sống ngày xưa được hiện ra một cách chân thật.
Qua bài này ta có dịp tìm hiểu rõ hơn về nghệ thuật của ca dao than thân. Nó mang âm điệu giọng thơ một nỗi buồn man mác, giàu chất nhạc và trữ tình. Dùng hình ảnh ẩn dụ, quen thuộc với người bình dân, diễn ý bằng cách miêu tả hình ảnh quen thuộc ấy trong tự nhiên.
Ca dao than thân đã phản ánh khát vọng của người Việt Nam xưa, ca dao còn khắc hoạ hình ảnh của người phụ nữ trong thời xưa : cam chịu, giàu đức hi sinh. Ca dao than thân có số lượng lớn và rất tiêu biểu cho kho tàng ca dao Việt Nam về nội dung cũng như nghệ thuật. Nó mang ý nghĩa phản kháng xã hội, phản kháng những điều ngang trái ẩn chứa rất sâu trong đó.

19 thg 10, 2009

Con cò mà đi ăn đêm...

Ca dao ra đời và tồn tại là để đáp ứng những nhu cầu bộc lộ tình cảm của nhân dân. Bên cạnh những bài ca về yêu thương tình nghĩa thì những lời than thở về cuộc đời đau khổ, đắng cay cũng là một đề tài rất tinh tế trong hệ thống ca dao dân ca Việt Nam. Đó là những lời than thân trách phận, tâm tư tình cảm của những con người lao động và họ đã mượn hình ảnh con cò để bày tỏ nỗi lòng của mình.
“ Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
_ Ông ơi, ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong,
Chớ xáo nước đục, đau lòng cò con. “
Hai câu thơ đầu của bài ca dao miêu tả sơ lược hình ảnh con cò _ một hình ảnh quen thuộc,thân thương của làng quê Việt Nam. Cánh cò từ ngàn năm đã nhập vào tâm hồn tuổi thơ qua lời ru êm ái và dòng sữa ngọt dịu của mẹ.
“ Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. “
Theo lẽ tự nhiên, cò thường bay đi kiếm ăn vào buổi sáng nhưng trong bài ca dao, con cò tội nghiệp này phải rơi vào nghịch cảnh trái với lẽ thường : cò phải đi kiếm ăn vào ban đêm lạnh lẽo, cô độc.
Cò không thể nhận biết được những khó khăn trước mắt, những tai nạn rủi ro mà mình sẽ gặp phải, mà vẫn chăm chỉ tìm kiếm thức ăn. Chẳng may “đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”, chú cò tội nghiệp gặp khó khăn. Những hình ảnh đó tượng trưng cho người nông dân Việt Nam hiền lành, chất phác, siêng năng,cần mẫn và phải trải qua biết bao vất vả, gieo neo.
“ _ Ông ơi, ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng. “
Ba từ “ông”, hai từ “tôi” được lặp đi lặp lại như nốt nhấn bi thảm của bài ca. Cò mong “ông” cứu vớt, đoái thương. Tiếng kêu cứu nghe rất tha thiết, chân thành, tội nghiệp. Cò cất tiếng thanh minh cho hoàn cảnh trớ trêu của mình, rơi xuống ao là do tai nạn không phải có ý định xấu. Nó cũng nhu6 nói đến những bất hạnh, hoạn nạn của nhà nông xưa đứng trước mọi thế lực thống trị và áp bức trong xã hội : sưu cao thuế nặng, ách thống trị nặng nề… . “Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng“ là lời phân trần, thanh minh : cò đi ăn đêm nhưng không phải kẻ bất lương mà cò hiền lành,lương thiện. Hình ảnh ẩn dụ, là biểu tượng về người nông dân “một nắng hai sương”. Đó là những con người hiền lành, cần cù, lam lũ, chịu thương chịu khó. Ôi thương thay những con người “chân lấm tay bùn” xưa trên mảnh đất giàu tình nghĩa Việt Nam.
Hai câu thơ tiếp theo, cò sợ người đời không tin mình nên đã nói :
“ Có xáo thì xáo nước trong,
Chớ xáo nước đục, đau lòng cò con. “
Hình ảnh ẩn dụ “nước trong”, “nước đục” đã gợi cho chúng ta biết cò là một người rất trọng danh dự. Nếu phải chết, cò muốn chết trong “nước trong” - chết trong danh dự chứ không phải là “nước đục” – một sự tượng trưng cho tai tiếng, nhục nhã và đầy hổ thẹn. Lời của cò còn thể hiện được những khao khát, những nỗi niềm khác nhau. Cò muốn được sống để có thể lo cho con, cho gia đình. Tiếng kêu của nó chân thành, gấp gáp giống như tiếng kêu của một sự cầu cứu. Dù sắp chết nhưng cò vẫn nghĩ đến lương tâm, trách nhiệm của mình đối với các thế hệ con cháu đời sau. Cò sợ đời sau xấu hổ, tuổi thân, phải mang tiếng xấu với đời. Qua lời cò, câu ca dao đã đề cập đến người bình dân Việt Nam rất trọng danh dự, luôn có trách nhiệm với thế hệ sau.
Bài ca dao ghi lại lời tâm sự của người bình dân xưa trong các hoàn cảnh sống. Lời tâm sự này bày tỏ thái độ phản kháng đầu tiên, phản ảnh ước mơ về một xã hội công bằng, người lao động được đối xử công bằng, tử tế hơn. Thông qua lời tâm sự này, bức tranh về hiện thực của cuộc sống ngày xưa được hiện ra một cách chân thật.
Qua bài này ta có dịp tìm hiểu rõ hơn về nghệ thuật của ca dao than thân. Nó mang âm điệu giọng thơ một nỗi buồn man mác, giàu chất nhạc và trữ tình. Dùng hình ảnh ẩn dụ, quen thuộc với người bình dân, diễn ý bằng cách miêu tả hình ảnh quen thuộc ấy trong tự nhiên.
Ca dao than thân đã phản ánh khát vọng của người Việt Nam xưa, ca dao còn khắc hoạ hình ảnh của người phụ nữ trong thời xưa : cam chịu, giàu đức hi sinh. Ca dao than thân có số lượng lớn và rất tiêu biểu cho kho tàng ca dao Việt Nam về nội dung cũng như nghệ thuật. Nó mang ý nghĩa phản kháng xã hội, phản kháng những điều ngang trái ẩn chứa rất sâu trong đó.
10a9-0910

10 thg 10, 2009

KTC2-Bài số 3-Văn cảm nhận-CD yêu thương tình nghĩa

1.Khát vọng yêu thương và được yêu thương trong các bài CD yêu thương trong sách GK Ngữ Văn 10 NC.
2.Lối sống đậm tình nặng nghĩa của người VN qua 1 số bài CD có trong SGK Văn 10NC.
3.Cảm nhận về bài ca dao số 1-2-3 trong"CD yêu thương tình nghĩa"
4.Cảm nhận về bài CD số 4 trong "CD yêu thương tình nghĩa"

Bài viết số 3-Văn biểu cảm-CD than thân

1.Cảm nhận về bài CD than thân số 1-2-3
2.Lời than thân của một cô gái đang yêu trong bài CD số 4 "CD than thân"
3.Từ bài ca dao bắt đầu bằng câu "Con cò́ mà đi ăn đêm", hãy trình bày suy nghĩ về hình ảnh người phụ nữ VN xưa và nay.

17 thg 11, 2008

Cô kia đứng ở...

Trong chủ đề ca dao yêu thương có không ít bài nói về khát khao gặp gỡ, làm quen nhau của các chàng trai, cô gái:
“Cô kia đứng ở bên sông
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”
Việc anh chàng xưng hô với cô gái là “anh – cô kia” thể hiện mối quan hệ giữa hai người còn xa lạ, chưa quen biết nhau. Bên cạnh đó, tác giả đã sử dụng hình ảnh ẩn dụ “chiếc cầu”, “cành hồng” thật đặc sắc. Hình ảnh “chiếc cầu” thường gợi ta liên tưởng đến vật nối liền hai bên bờ. Nay, với hình ảnh ẩn dụ “cành hồng” gợi ta khát khao nối liền hai trai tim, hai tâm hồn đang rạo rực như màu đỏ thắm của hoa hồng. Khát khao được gặp gỡ, làm quen với người mình yêu thương là một khát khao chính đáng. Nhưng “cành hồng” thì bao giờ cũng có gai, thể hiện con đường gặp gỡ, làm quen nhau không được thuận lợi. Nó bị kìm hãm bởi những quan niệm xưa cũ, lạc hậu. Những quan niệm ấy làm tan nát trái tim của những con người đang yêu.Tác giả dân gian đã rất khéo léo sửa dụng hình ảnh ẩn dụ “cành hồng” làm nét riêng cho bài ca dao này.Bên cạnh đó, ca dao Việt Nam còn có những bài thể hiện khát khao yêu đương, gặp gỡ nhau:
“Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi”
Đúng thật là ca dao dùng để bày tỏ tâm sự, tình cảm của người bình dân.Và nó sẽ là những viên ngọc sáng mãi cùng thời gian.

Nguyễn Ngọc Thiên Thanh10a9 - VTS

Ước gì anh hóa ra gương...

Tên: Nguyễn Vũ Phương UyênLớp: 10A9Trường: THPT Võ Thị Sáu
Đề: Phân tích đoạn thơ thứ ba ở chủ đề “Yêu thương tình nghĩa”
Ở bài ca dao thứ ba trong khối ca dao dân chủ về chủ đề “Yêu thương tình nghĩa”, chúng ta đã dần thấy rõ được mong muốn mạnh mẽ của chàng trai đối với cô gái, được ở bên nhau trọn đời qua các câu thơ lục bát thấm đẫm chất trữ tình
“Ước gì anh hóa ra gương
Để cho em cứ ngày thường em soi
Ước gì anh hóa ra cơi
Để cho em đựng cau tươi trầu vàng”
Ở đây sử dụng điệp ngữ “ước gì” hai lần một cách dứt khoát, thể hiện ước nguyện chính đáng và trong sáng của chàng trai đó, về sự chung đôi với cô gái qua các từ “gương”, “cơi”. “Gương” là vật dụng hằng ngày các cô gái thường sử dụng để làm đẹp cho chính bản thân, thì ở đây, chàng trai cũng muốn được bên người con trai đó mỗi ngày. “Cơi” và “cau tươi trầu vàng” là những thứ luôn gặp trong các đám cưới. Ước nguyện được cưới cô gái, được cùng ăn đời ở kiếp với cô cho đến cuối đời mình, vì lẽ “cơi” luôn đồng hành với “cau”, “trầu”. “Cau tươi trầu vàng” còn thể hiện sự linh thiêng, bất tử của tình yêu. Ngoài ra còn một điểm rất nổi bật nữa ở đây đã đến gần nhau. Bài sử dụng phép lục-bát một cách nhẹ nhàng, uyển chuyển, sử dụng nhiều từ gần gũi, thân mật hơn, đồng thời đã nêu rõ được ước nguyện của các đôi lứa yêu nhau là mong muốn yêu và được yêu, được bên nhau trọn đời như trầu-cau vậy.

Mở bài " Yêu thương tình nghĩa"

Tên: Trần Hồ Thanh ThươngLớp: 10A9Trường: THPT Võ Thị Sáu
Đề: Mở bài của Yêu Thương Tình Nghĩa
Kho tàng ca dao Việt Nam rất đa dạng, phong phú, sâu sắc về ý nghĩa tư tưởng và giá trị nghệ thuật, là “thơ của mọi nhà”, là tấm gương soi của tâm hồn và đời sống cả dân tộc; là khát khao, niềm tự hào khôn xiết về cái cách mà những con người lao động Việt Nam, trực tiếp bày tỏ lòng mình mà không cần đến mất kỳ khuôn khổ thơ chính quy nào. Họ gửi gắm vào đó là yêu thương, sướng vui, đau khổ, là ước mơ, hoài bão… Không nằm ngoài chuỗi sáng tác mang đề tài yêu thương, tình nghĩa làm nên bản sắc văn hóa dân gian, những bài ca dao dưới đây thể hiện được khát vọng yêu thương và được yêu thương mãnh liệt, đồng thời cũng là ước mơ về một tình yêu tự do nơi trái tim những đôi lứa yêu nhau:
“Cô kia đứng ở bên sông,
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”

“Ước gì sông rộng một gang,
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi”

“Ước gì anh hóa ra gương,
Để cho em cứ ngày thường em soi
Ước gì anh hóa ra cơi,
Để cho em đựng cau tươi trầu vàng”

13 thg 11, 2008

Chiếc cầu độc nhất vô nhị- Cầu dải yếm nối liền 2 bờ nhớ thương

Từ xưa đến nay đã có nhiều bài ca dao về tình yêu đôi lứa, về những mong muốn được gặp gỡ và ở cạnh bên nhau. Bài ca dao sau là một trong những ví dụ đó:

“Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.”

Qua những câu thơ lục bát nói trên, tác giả dân gian đã thể hiện đươc mong muốn, ước mơ của nhân vật trữ tình bằng cách dùng hình ảnh ẩn dụ “Bắc cầu dải yếm” rất đăc sắc. Ở đây, nhân vật trữ tình là cô gái đã gọi người mình yêu là chàng rất thân thiết và nhẹ nhàng. Hình ảnh chiếc yếm mềm mại với màu sắc tươi tắn là vật gần gũi với người on gái, vật gần nhất với trái timTrong bài ca dao trên, hình ảnh "chiếc cầu dải yếm" còn thể hiện ý muốn của cô gái được gần gũi với người mình yêu. Những dòng thơ đã diễn tả được nôi tâm nhân vật trữ tình, l à một hình ảnh t ương t ưng cho các thiếu nữ đang y u, mang một mong ước rất gi ản dị v à ch ính đáng- Được gặp gỡ người mình yêu. Điểm đặc sắc của bài ca dao này là việc sử dụng hình ảnh “Bắc cầu dải yếm” thể hiện niềm mong ước của cô gái muốn đ ược ở gần với người mình yêu một cách táo bạo, đầy nữ tính nhưng vẫn thể hiện nét chung của bài ca dao yêu thương tình nghĩa là nói lên mong ước chính đáng để được gần nhau của đôi lứa đang yêu.
10A9- 2008-2009

10 thg 11, 2008

Tình yêu chân thành của một chàng trai

Khanh Kim
Trong những tình cảm thiêng liêng của con người thì tình yêu đôi lứa luôn là tình yêu đẹp nhất. Nó đã được thể hiện qua những bài thơ, ca dao.... Qua bài ca dao sau đây, chúng ta sẽ cảm nhận được một tình yêu đẹp đẽ, tình cảm sâu sắc mà chàng trai dành cho người mình yêu:
Ước gì anh hóa ra gương
Để cho em đứng ngày thường em soi.
Ước gì anh hóa ra cơi
Để cho em đựng cau tươi trầu vàng.
Nhân vật trữ tình thể hiện tình cảm của mình qua những vật dụng hết sức giản dị nhưng lại chứa đầy ý nghĩa, biết bao tình cảm của mình. Chàng trai mong muốn mình được hóa ra gương, hình ảnh chiếc gương luôn quen thuộc với người con gái, để họ có thể ngắm mình, làm dáng trước gương. Ở đây, chàng trai muốn hóa thành gương để luôn luôn được thấy người mình yêu mỗi ngày, luôn mang hình ảnh của nàng trong tim của mình. Vật dụng tuy đơn sơ mà chính nó lại hàm chứa những ý nguyện của chàng trai với người mình yêu. Sau đó, tình cảm giản dị chân thành đó còn được nhân cao hơn. Chàng trai muốn hóa thành một chiếc cơi, một vật dụng luôn mang bên mình. Để cho chàng trai có thể luôn ở bên và chăm sóc cho cô gái. Những hình ảnh ẩn dụ như là chiếc gương, cơi đã gợi lên tình cảm thiêng liêng của đôi trai gái đặc biệt là của chàng trai. Chàng đã dùng hình ảnh đó như là lời cầu hôn của mình. Điệp từ "ước gì" là những mong muốn, ước vọng của chàng trai với cô gái, đến những điều tươi đẹp. Bài ca dao trên đã cho ta thấy một cách tỏ tình hết sức giản dị mà lại sâu sắc. Khát vọng yêu và được yêu của nhân vật trữ tình.

Khát vọng làm quen-Khởi đầu của tình yêu chân chính

Tên: Trần Hồ Thanh ThươngLớp: 10a9STT: 28Trường: THPT Võ Thị Sáu
Đề: Cảm nghĩ về bài ca dao Yêu thương tình nghĩa (phân tích)
Ca dao cổ truyền Việt Nam có nhiều câu diễn tả tăm trạng khi yêu thương ở mọi ngoài cảnh, trang lứa, vùng miền, không phân biệt sang hèn hay già trẻ, bởi lẽ, người Việt Nam vốn dĩ sống rất tình cảm và giàu tình thân mến! nhiều nhất chắc có lẽ phải nhắc đến tình yêu nồng nàn và đê mê của những đôi lứa đang yêu. Có một chàng trai đang chìm đắm trong thứ cảm xúc không thể gọi tên chính xác, khi mà chàng ngỏ lời hỏi:
“Cô kia đứng ở bên sông,
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang.”

Này thì là cái sự yêu! Khi yêu thì con người ta chỉ muốn được ở bên nhau, được thu gần khoảng cách đôi mắt, được rút ngắn cự li trái tim. Trớ true thay họ lại xa cách nhau cả một dòng sông, đến mức chàng phải cất tiếng vọng sang bờ bên kia. Chàng gọi “cô kia” rồi tiếp lời ngay không chờ lời đáp, tiếp rằng “muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”. Có lẽ chàng trai sợ tiếng thổ lộ ý nguyện muốn được gần em của mình sẽ trôi theo dòng nước trên sông, sợ tấm lòng của mình bị khoảng cách đôi bờ chia rẽ, sợ không thỏa được cái ước vọng có em trong vòng tay. Hình ảnh “cành hồng” thật đẹp, thật lãng mạng và cũng thật tinh tế - tượng trưng cho chiếc cầu chàng muốn bắc nối liền hai bờ, và cũng là nhịp cầu nối hai trái tim đang yêu. Chàng bày tỏ rằng muốn “ngả cành hồng” ý rằng hẳn là chàng trân trọng con đường duy nhất đến với cô gái lắm, mặc dù cơ hội này quá mong manh, vô ảo vô thực. Họa chăng lẽ chính chàng trai đang mơ ước?...

Khoảng cách giữa hai bên bờ sông được giữ nguyên, ước nguyện vượt qua sông để gặp gặp gỡ cũng vẫn vẹn toàn, chỉ có nỗi niềm mông lung. Cô gái tâm sự:
“Ước gì sông rộng một gang,
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.”
Không còn là lời gọi sang bên kia sông, ở đây cô gái đang tự ước ao cho riêng mình. Gọi đối phương là “anh” và xưng “em”, hẳn là hai người họ đã thân thiết và gắn bó quấn quit nhau lắm đây! Gần gũi nhau là thế nhưng cũng có một lúc nào đó bị chia cách: ngày ngày nhìn thấy nhau, ngắm con người đang nắm giữ trái tim mình nhưng lại không được gần nhau, không được trai lời nhận lẽ - những lời nói ngọt ngào nhất đối với những đôi lứa yêu nhau. Sự chia ly đó còn làm con người ta bức bối, bang khuâng hơn bội phần. Chiếc cầu “dải yếm”, cũng nằm ngoài khả năng thực hiện mượn hình ảnh ẩn dụ “dải yếm”, cũng ngoài khả năng thực hiện của cô và chỉ có thể luẩn quẩn, loanh quanh mãi trong ước mơ chính đáng là được gần gũi người mình yêu. Hình ảnh “cầu dải yếm” tuy không có thực nhưng rất đẹp và sâu sắc, còn chiếc dải yếm lại là vật dụng có thực, không những vậy mà còn cực kỳ gắn bó với người phụ nữ. Các nghệ nhân dân gian không sử dụng hình tượng chiếc áo mà nhờ đến vật gần trái tim nhất, vật mang đậm hơi thở, sức ấm của người mặc nó nhất. Chiếc yếm thường mang màu sắc tươi tắn và rực rỡ, cũng tươi vui như chính cảm xúc của cô gái vậy. Dẫu rằng khát vọng được gặp anh chưa bao giờ nguôi ngoai trong lòng nhưng dường nhưng dường như cô gái tin tưởng và rạng rỡ một cách đầy nữ tính mà cũng táo bạo rằng giấc mơ đôi lứa ước hẹn sẽ thành sự thật, và họ sẽ đi bên nhau, bên biển trời xanh mãi.
Tiếp nối điệp khúc “ước gì”, giờ nỗi niềm lại quai về đặt vào lời tự nhủ của chàng trai. Hãy cứ xem rằng nhân vật trữ tình trong bài ca dao dưới đây cũng chính là chàng trai co mong muốn “ngả cành hồng” trên kia. Chàng cũng bộc lộ niềm mong mỏi giấu trong lòng, giờ đây tăng thêm một bậc ý nghĩa hơn và mong tính gắn bó hơn lời ngỏ trên kia, khi mà chàng thốt ra lời nói tự đáy lòng:
“Ước gì anh hóa ra gương,
Để cho em cứ thường ngày em soi.”
Vẫn là biện pháp nghệ thuật “ẩn dụ sử dụng xuyên suốt các bài trên nhưng đầy biến hóa và độc đáo với hình ảnh chiếc gương. Chàng trai không còn ý nhị, kín đáo nữa, tuy nhiên không mất đi sự tin tế , kết hợp nét táo bạo, nhân vật tỏ lòng rằng chàng muốn hóa thành gương để mãi ở bên cạnh người thương cả ngày. Chàng muốn bóng hình em lồng trong tâm can mình, được tôn lên vẻ đẹp rạng ngời anh yêu, được ấp ủ mãi cái ngày tháng êm đềm em ngủ ngoan trong trái tim. Ước muốn của anh giản dị và chân thành, sâu lắng niềm hạnh phúc được ở gần người anh thương. Nhưng thâm tâm anh lo sợ vẫn vơ, lo rằng em soi vào gương sẽ thấy gương mặt mình phai màu xuân thắm vì nỗi lòng xa cách, sợ rằng em soi em thở dài u sầu làm con tim anh quặn thắt. lặp lại điệp từ “ước gì”, chàng trai lại tiếp tục ước:
“Ước gì anh hóa ra cơi,
Để cho em đựng cau tươi trầu vàng.”
Trầu cau là hình ảnh tuyệt đẹp và giàu ý nghĩa. Tập tục ăn trầu đã gắn bó với dân tộc Việt Nam từ rất lâu rồi, từ trước khi có sự tích trầu câu ra đời và trở thành nét đặc trưng đẹp đẽ của người phụ nữ Việt Nam xưa nay nói chung. Cánh trầu ôm ấp lấy cau cứ rực lên sắc thắm dịu êm của vôi têm, là “đầu câu chuyện”, là biểu tượng của sự kết tóc se duyên, của sự sum họp tình yêu đôi lứa tự muôn đời”
“Trầu này trầu quế trầu hôi,
Trầu loan trầu phượng trầu tôi trầu mình.
Trầu này trầu tíh trầu tình,
Trầu nhân trầu ngãi trầu mình lấy ta.”
Trầu năm xưa là thứ thức ăn tao nhã có phần dành riêng cho người phụ nữ nên hiển nhiên “cơi” được xem là món “trang sức” tao nhã luôn kề cận bên họ. Cũng lại là ước mơ được gần gũi và được em nâng niu cất giữ những vật em yêu mến. Sử dụng hình tượng thiêng liêng không thể thiếu trong lễ cưới chắc lọc từ chíh cuộc sống người bình dân, các tác giả dân gian đã thổ lộ hộ chàng trai ước vọng được cưới em, được ăn đời ở kiếp với em và cùng chung sống đến cuối đời. Hơn thế nữa, phải chăng ẩn ý đằng sau là nhấn mạnh việc cưới hỏi của anh và em được công nhận, được tập tục mang đậm bản sắc văn hóa giân gian ủng hộ khi có sự hiện diện của trầu và cau? Nhưng cho dù hiểu theo nghĩaa nào đi chăng nữa, tâm nguyện được nhắc đến ở bài ca dao thứ ba này cũng thuộc mức độ cao nhất trong chuỗi các sự việc tăng dần nhằm bộc lộ khao khát yêu thương và được yêu thương của nhân vật trữ tình. Mặc dù hình ảnh được ẩn dụ mượn hình ở từng bài mang nét đặc sắc riêng rẽ nhưng nhìn chung đều mang thể thơ lục bát, luyến thanh nhẹ nhàng uyển chuyển rất phù hợp với việc bày tỏ tâm tư tình cảm, cùng lời nói vòng kín đáp, tế nhị mà chan hòa, dễ hiểu; từ ngữ cũng giản đơn, dễ đọc dễ hiểu, dễ thuộc dễ nhớ, đậm đà bản sắc Văn hóa dân gian.

Không chỉ dừng lại ở ba bài ca dao thú vị nói trên, đề tài về niềm mơ ước lứa đôi chính đáng còn có rất nhiều viên ngọc quý góp phần tạo nên vẻ long lanh hấp dẫn, cuốn hút.

Con Cò mà đi ăn đêm

Tên: Trần Hồ Thanh ThươngLớp: 10A9STT: 28 Trường: THPT Võ Thị Sáu
Đề bài: Con cò mà đi ăn đêm
Kho tàng ca dao Việt Nam vô cùng phong phú, giàu giá trị tư tưởng, nghệ thuật, là “thơ của vạn nhà”, là tấm gương soi cho tâm hồn và đời sống dân tộc. Ca dao ra đời và tồn tại là để đáp ứng những nhu cầu bộc lộ t ình cảm của người lao động bình dân Việt Nam. Ở đây, người ta không chỉ than thở về cuộc đời, về cảnh ngộ khổ cực đắng cay mà còn là thái độ phản kháng xã hội, chống đối những điều ngang trái ẩn chứa tinh tế. Có khá nhiều câu ca dao mượn hình tượng “con cò” làm phương tiện nghệ thuật xây dựng nên nét đặc sắc riêng, nhưng có lẽ không bài nào có hình ảnh con cò được phác hoạ độc đáo, tỉ mỉ, giàu tính triết lí nhân sinh và sức thu hút như bài:
“Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”

Hình ảnh con cò được bắt gặp rất nhiều trong ca dao dân ca Việt Nam, bởi lẽ, thân cò giống như người nông dân Việt vậy, đời cò sao cũng lắm nhiêu khê lầm than? Cò cũng gầy guộc, cũng chịu thương chịu khó lặn lội kiếm ăn từng chút một. Vất vả và tội nghiệp lắm, khi mà những điều rủi ro ngoài ý muốn luôn chực chờ rình rập xung quanh, chúng cứ lù lù tiến tới, mà ta không biết từ hướng nào đến d6a4u lắm lúc cảm gíc được thật rõ rệt. Run rủi thế nào...

“ Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”
Hai câu thơ lục bát mở đầu ngắn gọn và diễn trọn ý; chỉ là những từ thuần Việt hết sức dân dã nhưng sắp xếp súc tích nên đã cung cấp được những chi tiết khá tường tận và cụ thể về hoàn cảnh lâm nạn của cò. Trước nhất, hai tiếng “ăn đêm” là chi tiết đặc biệt đầu tiên, là nguyên nhân gây ra mọi xung đột về sau trong câu chuyện thương tâm, đồng thời nêu bật lên cái cảnh ngộ tréo ngoe vàngang trái. Tập tính loài cò là đi kiếm an vào ban ngày ngoài đồng ruộng, vốn đã từ lâu trở thành sinh hoạt thường nhật và quy luật tự nhiên của loài. Chỉ khi có điều kiện ngọi cảnh tác động mạnh mẽ, chúng mới phải “đi ăn đêm” cùng loài vạc vốn mâu thuẫn, xung đột ngay cả trong đời thực lẫn ca dao. Đọc kĩ, ta thấy câu ca dao thư’ nhất này lược bỏ chữ “mà” vẫn không làm thay đổi ngữ nghĩa của câu; sự có mặt của nó càng làm tăng tiến thêm điều bất bình thường gây ra cớ sự ấy. Bài ca dao đặc biệt này thuộn thể loại ca dao ngụ ngôn, tức là mượng chuyện vật để nói về người; muốn hiểu được những điều tác giả gửi gắm trong đó thì phải dựa trên cốt truyện và tình tiết diễn biến của vật đó. Bài này vừa có thơ, vừa có truyện và có caa3 kịch nữa: kịch tính cao trào không chỉ nằm ở hoàn cảnh lâm nạn đã nêu ở trên mà còn ở đoạn đối thoại trực tiếp cùng mâu thuẫn nội tâm kịch liệt của nhân vật ngụ ngôn- chú cò đáng thương kia.
Đang ở dưới ao tối, kẻ sắp chết chìm ngoi lên kr6u cứu, rất thảm thiết và thành khẩn. Nó rên rỉ cầu cứu bằng tiếng kêu đứt đoạn, ngắt quãng, lạc lõng:
“Ông ơi ông vớt tôi nào
Cả câu duy nhất từ “vớt” vút nổi lên cao, còn lại đều không dấu và ngang bằng nh
ư thể không vượt qua nổi ranh giới giữa sự sống và cái chết. Liệu tâm hồn nhân vật “ông” có đủ rộng mở, hào hiệp để nghe trọn vẹn câu cầu cứu bi ai không?, vì thật sự con cò chỉ có thể kêu to và rõ mỗi từ “vớt” mà thôi... Giữa đêm tối mà may mắn có được người nhìn thấy mình bị nạn, cò xem như nhân vật “ông” đã ban tặng cho mình một đặc ân được sống. Tia sáng của sự sống vừa loé lên yếu ớt , cò lại tiếp tục chấp nhận bị nghi ngờ cho cái tội “tình ngay lý gian”. Cò lập tức thanh minh:
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng”
Dẫu đang trong tình trạng cấp cứu, hoàn cảnh họn nọn “ngàn cân treo sợi tóc”, con cò vẫn hết sức minh mẫn, tỉnh táo và nhớ rõ sự đời. Sự giúp đỡ sẵn long vô tư hãy còn rất hiếm hoi trên đời! Cái gì cũng có cái giá của nó. Tia sáng sự sống yếu ớt kia được thắp lên, soi cho tâm trí cò hình dung được ba con đường, ba khả năng khác nhau. Một là sự lạnh lùng vô tâm của “ông” dập tắt đi cái khao khát được sống của nó: khi “ông” thấy rồi lại quay lưng ngoảnh mặt làm ngơ, mặc cho con cò chết chìm trong nước. Hai là nó được vớt lên và thương tình cho sống- hết sức mong manh và bấp bênh dẫu cho nó hoàn toàn có quyền đ
ược đối xử như vậy. Khả năng thứ ba được bản than cò và tác giả xem là “triển vọng” nhất, khi mà nó đã lường trước được cái chết còn ghê gớm, thâm hiểm hơn. Cảnh ngộ của cò là cảnh ngộ của kẻ đến bước đường cùnbg, bế tắc và bi kịch, có kah1c gì hoàn cảnh chuung của những con người lương thiện gặp hoạn nạn trong cái xã hội phong kiến đầy rẫy những bất côn, bóc lột và lợi dụng. Có lắm lúc, gặp điều không may, người ta không th6e3 không cậy nhờ vào sự giúp đỡ của người khác; nhưng nào ai có ngờ được sự cứu vớt ấy lại đẩy đưa học đến tai học và nỗi khổ cực kah1c còn lớn hơn, đau hơn trăm nghìn lần. Xót xa biết mấy khi mà niềm tin vừa thắp lên lại bị sự giúp đỡ có chủ ý làm cho lụi tàn. Biếg thế nhưng con cò vẫn thành tâm kêu cứu một cách hồn nhiên và thiết tha, như con người ta vẫn cứ tin vào lòng tốt của nhau vậy.
Tự nhận thức được cơ hội sống của mình là rất nhỏ nhoi, le lói, từ đ1o mà điều băn khoăn, ray rứt của cò giờ đây không phải là sống hay chết mà là đắn đo giữa “chết trong” hay “chết đục”. Cò mơ ước được sống, rất mãnh liệt, nhưng vẫn đủ bình tĩnh nhìn thẳng vào hiện thực, vào cái chết không thể tránh khỏi của mình. Cò đang nhờ đến sự giúp đỡ nhưng không chủ uqan ảo tường, tuyệt đối tin vào lòng tốt của người đời, vì thế cò bày tỏ rằng:
“Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”
Vậy là cò đã chủ động chọn lựa cái chết và chủ động thổ lộ nguyện ước được “chết trong” của mình, rất cao thượng và cũng quá thành thật đến mức tội nghiệp. Thân cò đáng thương nài nỉ van xin lần sau chót:
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con!”
Hai tiếng cò con nghe thiết tha quá, đau đớn quá! “Cò con” là tiếng xưng hô khiêm nhường, khuất phục, lệ thuộc đối với nhân vật “ông”, hay để chỉ thân cò còn nhỏ dại, chưa đủ lông đủ cánh tự bươn chải kiếm sống; hay là ám chỉ thế hệ con cháu của nhân vật ngụ ngôn nói trong bài...?Không aui lý giải thất đáo đ
ược; Nhưng cho dù hiểu theo nghĩa nào thí nó cũng gây ra một sang chấn nho nhỏ trong lòng người đọc, đủ để con người ta thấy xúc động bồi hồi. Sẽ hay và hấp dẫn, thuyết phục hơn khi đặt hình ảnh cò con bé bỏng vào mâu thuẫn nội tâm cò, khi cò còn nhỏ mà đã biết “đau lòng” nếu phải “chết đục”. Mặt khác, sẽ thấy hợp tình hợp lý, dễ đồng cảm nếu hiểu danh từ phiếm chỉ “cò con” là để chỉ thế hệ con của con cò lâm nạn; khi ấy, nỗi đau được nhắc đến là của cả một thế hệ nối tiếp, là nỗi hổ thẹn và sỉ nhục vô chừng của cháu con khi ông cha chúng chết trong hổ thẹn và sỉ nhục.

Toàn bộ bài ca dao duy nhất chỉ là hoàn cảnh và lời thoại đến tứ một phía, ta không thấy có lời đáp hay hành động cụ thể nào từ nhân vật “ông”. Bài ca dao kết thúc đột ngột và mông lung, không ai biết rồi số phận con cò sẽ ra sao. Tác giả dân gian cho phép người đọc tự hìnnh dung ra cái kết của riêng mình để rồi làm con người ta cứ thấy thổn thức trong lòng. Bài ca dao khẽ khàng khép lại nhưng lại mở ra nhiều cái mới mẻ và xúc động. Bằng lối nói ẩn dụ tài tình và biểu cảm, hình ảnh tượng rưng con cò càng tôn lên những phẩm hạnh tốt đẹp, tâm hồn thanh cao của người Việt Nam- những người rơi vào hoàn cảnh trớ trêu vẫn trọng danh dự đến cùng

8 thg 11, 2008

Cảm nhận về bài "Khăn thương nhớ ai"

Họ và tên: Trần Hồ Thanh Thương Lớp: 10A9STT: 28Trường: THPT Võ Thị Sáu
Đề bài: Cảm nhận về bài ca dao “Khăn thương nhớ ai”
Kho tàng ca dao Việt Nam vô cùng phong phú, giàu giá trị tư tưởng, nghệ thuật, là “thơ của vạn nhà”, là tấm gương soi cho tâm hồn và đời sống dân tộc, là niềm tự hào khôn xiết về cái cách mà những con người lao động Việt Nam trực tiếp bày tỏ long mình mà không cần nhờ đến bất kì một khuôn khổ thơ chính quy nào. Họ gửi gắm vào đó là yêu thương, sướng vui, đau khổ; là hoài bão, ước mơ, niềm mong mỏi… Không nằm ngoài chuỗi sáng tác mang đề tài thương nhớ làm nên bản sắc văn hoá dân gian, bài ca dao được nhà phê bình Hoài Thanh đánh giá là “hay nhất Việt Nam”, “ Khăn thương nhớ ai” cũng trĩu nặng niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu, sâu lắng và hay lạ lùng…:
“Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt
Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt
Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ không yên
Đêm qua em những lo phiền
Lo vì một nỗi không yên một bề.”

Ca dao về nỗi nhớ là hợp âm các nốt trầm lắng đọng lòng người trong cung bậc tình yêu - vốn là đề tài muôn thưở và quen thuộc của người bình dân. Nỗi nhớ nhung nào có buông tha một ai? Mọi cảnh huồng, mọi số phận, mọi trang lứa; và nó nhẫn tâm bủa vây, bám víu lấy người con gái đơn chiếc. Nỗi nhớ ấy như muốn thiêu đốt tan chảy cả cõi lòng nhưng lại được che giấu kín đáo và ý nhị, không bộc lộ một cách buông tuồng, suồng sã. Tâm trạng nàng, biết tỏ cùng ai? Những câu hỏi không có câu trả lời, cô dành để hỏi những vật dụng quen thuộc nhất kề bên mình trong lúc cô đơn :
“Khăn thương nhớ ai?...
... Đèn thương nhớ ai?”
Những câu hỏi cất lên rồi lại trôi dạt mãi vào hư vô im tiếng, cứ nén chặt niềm thương nỗi nhớ trong lòng, để rồi chực trào tuôn ra thành tiếng thở dài triền miên. Cái khăn được hỏi đến đầu tiên và cũng được hỏi nhiều nhất’ cô gái hỏi vật trao duyên mang ý nghĩa thiêng liêng duy nhất của mình. Chiếc khăn ấy phải chăng đã ấp ủ biết bao hơi ấm bàn tay, đã thấm đượm nhiều vô chừng những lời ân ái mặn nồng :
“Gửi khăn, gửi áo, gửi lời,
Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa”
Giờ người đã xa, hơi ấm nồng đượm vương vấn nơi đây âu chỉ là nỗi buồn chờ đợi quá khứ, cái không gian cô quạnh cứ miên man trải rông trên nhiều chiều, nỗi nhớ cứ thế mà quanh quẩn trong tâm trí trăm mối tơ vò, khiến vật chứng nhân vô trí vô giác cũng động lòng mà:

“Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt.”
Ba hình ảnh đặc trưng cộng hưởng thêm ba câu thơ láy cô gái tự nhân hoá chiếc khăn lên rồi hỏi: “Khăn thương nhớ ai?”, cùng lối vắt dòng láy tổng cộng sáu lần từ “khăn” thành một điệp khúc tạo cảm giác dường như nỗi nhớ càng thêm triền miên. Mỗi lần hỏi là một lần nỗi nhớ kia thêm trào dâng cuồn cuộn trong lòng. Ôi, sầu đong càng lắc càng đầy! Cô gái đang hỏi chiếc khăn trao duyên hay đang đối thọi với bản thân mình đây? Đằng sau nghệ thuật đảo thanh đầu uyển chuyển, cách sử dụng hình ảnh vận động trái chiều, đằng sau hết thảy các sử “xuống- lên”, “rơi- vắt” của khăn hiện lên hình ảnh một con người rất rõ, con người ấy đang tiếc nhớ khôn nguôi về mối tình đẹp đẽ. Nhớ đến mức không còn tự chủ được dáng đứng bước đi, không thề đứng yên ngồi ổn được, cứ thất thểu ra vào, bởi vậy người ta mới có câu:
“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than”
Nỗi nhớ cứ rừng rực trong lòng, len lỏi vào từng dòng máu thớ thịt, thế mà vẫn không đủ để cản ngăn dòng nước mắt khóc thầm:
“Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt”
Nước mắt em rơi từ khoé lệ u sầu, rơi trên tiếng cười đùa hôm qua, và rơi trên u buồn hôm nay, những “ hai hàng nước mắt đầm đàm như mưa: làm khổ em biết bao nhiêu đêm dài. Nỗi nhớ sâu trong tâm hồn réo thúc bùng sôi nhưng được bộc lộ ý nhị, nọt ngào, mang màu sắc nữ tính, nhẹ nhàng. Cô gái trong bài ca dao là một con người biết trân trọng những kỉ niệm, biết ghìm nén lòng mình, dẫu cho trái tim đã băng hoại vì nỗi buồn man mác gậm nhấm lủi tàn mất rồi. Cái khăn đã giãi bày hộ cô gái cái nghẹn ngào đọng mãi trong lòng không nói ra được. Cái thứ cảm gáic không gọi được tên nặng trĩu trong lòng là thế, vậy mà cứ nhẹ tênh lan toả rộng khắp, thấm đượm vào không gian, vào cả sự đồng cảm nơi người đọc...

Nhưng không chỉ có thế, nỗi nhớ ở đây còn được đong đếm theo bước chân thời gian chứ không chỉ thăng trầm theo từng bước đi của nhân vật. Ban đêm là thời khắc để bất kì con người nào cũng có thể suy ngẫm về người, về đời, rất thật. Đối với cô gái, đó là lúc niềm khắc khoải lại càng làm tim cô đau nhói. Niềm đau ở đây được diễn tả theo một cách riêng, nhất quán và không thể nhầm lẫn. Điệp khúc “thương nhớ ai” được giữ lại trọn vẹn còn tâm sự được gửi gắm tiếp vào ngọn đèn đêm:
“Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt”
Cả bài ca dao là một hệ thống các câu hát lẻ độc lập: khi đứng riêng chúng hoàn toàn có thể diễn đạt hết nghĩa, còn khi ghép chúng lại với nau, chúng thu hút người đọc và nỗi lòng trải rộng mãi hết không gian rồi lại sang thời gian. Trong sự ưu phiền vò võ của đêm khuya khắc vợi canh tàn, trong bóng đêm mịt mù đến hốt hoảng, đốm lửa ấm dù nhỏ nhoi trên đầu ngọn bấc kia chứng tỏ người thắp đèn vẫn chưa tài nào ngủ yên được. Cô gái gửi tâm tình ngổn ngang trăm mối những đêm thâu trằn trọc vào ngọn lửa nhỏ, hay chính ngọn lửa tình bất diệt luôn cháy mãi trong tâm can? Chừng nào lửa tình vẫn cháy thì chừng ấy lửa đèn kia tắt làm sao được. Vẫn là câu hỏi không có lời đáp, và vẫn là hình ảnh tượng trưng được nhân hoá, “ngọn đèn” cũng biết thổ lộ bao điều, buộc ta phải rung cảm suy nghĩ nhiều hơn, sâu sắc hơn những điều được đề cập trong lời ca da diết.


Bày tỏ, giãi bày hộ cô gái bằng giá trị tượng trưng rất biểu cảm theo lối nói vòng đầy cuốn hút, nhưng rồi rốt cuộc “khăn” và” đèn”cũng chỉ là cách nói gáin tiếp thông qua biện pháp nhân hoá. Đến dòng thơ thứ chín, không kìm lòng được nữa, thứ “cảm xúc không gọi được tên” trên kia chực vỡ oà, cô tự hỏi chính mình:
“Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ không yên.”
Hình tượng các nghệ nhân dân gian sử dụng thật hợp tình hợp lý, nhất quán và xuyên suốt: “đèn chẳng tắt” vì “mắt không yên”, “mắt không yên” nên “đèn chẳng tắt”. Nỗi ưu tư còn nặng trĩu, khối tinh thần bất biến vẫn vẹn nguyên, tình yêu chung thuỷ chẳng đổi dời. Cứ khép đôi bờ mi đẫm lệ, hình bóng người thương lại hiện về, giấc ngủ dẫu có cũng vô cùng ngắn ngủi và mãi chập chờn những giấc vơ vô ảo vô thực. Năm lần hỏi, năm lần điệp từ “ai” vang lên thổn thức xoày vào lòng ta một nỗi niềm khắc khoải, đồg cảm bi ai. Bản thân từ “ai” mang ý phiếm chỉ, nên câu trả lời thực chất được khẳng địh ngay từn câu hỏi tưởng như không có lời đáp. Cách khẳng định này không được diễn đạt bằng ý chính mà mang tính nghệ thuật, thi vị hơn, mạnh mẽ hơn. Dẫu vậy, với tính chấ nghệ thuật rất riêng của văn học dân gian, chẳng mấy ai yêu quý bài ca dao này không tự lý giải được, rằng không ai khác ngoài chàng trai đã gây nên nỗi lòng cô đọng trong điệp từ “ ai” kia. Mười câu thơ bốn chữ còn hay về cách gieo vần: vần chân xen lẽ vần lưng, trong đó thanh bằng và thanh trắt lại xoắn quýt lấy nhhau tạn nên âm điệu luyến láy liên hoàn, bâng khuâng mãi. Và nếu cứ đi theo cung cách cấu tứ như thế, lòng cứ tự hỏi lòng, thì bài ca dao sẽ trải dài cùng nỗi sầu đến vô tận. Lần theo mạch xúc cảm xuyên suốt, qua tới mấy lần hỏi, điểm cao trào bất chợt xuất hiện đột ngột dưới hình thức câu tho8 lục bát, biến nỗi nhớ nhung dằng dặc kia thành:

“Đêm qua em những lo phiền
Lo vì một nỗi không yên một bề”
Từ nhịp thơ bốn chữ dồn dập và gây rung động lạ kỳ chuyển sang lục bát nhẹ nhàng và xao xuyến, bởi lẽ, cô gái một mực thương nhớ người yêu vẫn biết lo lắng cho số phận trái ngang của mình. Cô nhớ lắm, đến nỗi:
“Qua cầu dừng bước trơng cầu
Cầu bao nhiêu nhịp lòng sầu bấy nhiêu”
Guồng quay cuộc sống thì cứ mãi lừng lững tiến về phía trước, hoàn cảnh trớ trêu không cho phép người con gái đơn thân mãi “ Thương thương nhớ nhớ sầu sầu”, xã hội không đồng ý để cô “Một ngày ba bận ra cầu đứng trông” . Từ “lo” được lặp lại đến hai lần, cùng chỉ từ số nhiều “những” chứng tỏ trong lòng cô gái đang có nhiều lo sợ mênh mông khi nghĩ về người mình yêu cùng một lúc; nhói cả tim khi nghĩ rằng anh sẽ thay đổi, sẽ như” vầng mây bạc giữa trời mau tan”; quặn cả lòng khi hay cả một xã hội phong kiến thối nát đang chực chờ ép duyên... Hạnh phúc quá mong manh và cái quyền tự do yêu đương cũng thật là bấp bênh, khi tình yêu tha thiết chân chính luôn bị nỗi sợ nơm nớp vô biên lấn át, “Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời”. Nỗi lo phiền trĩu nặng tâm can, xuất phát từ chính nỗi nhớ thươngkho6n nguôi, từ khát vọng yêu và được yêu, từ sự bức bối muốn được vùng dậy giải thoát. Tình yêu, nỗi nhớ nơi con tim mồ côi và nguội lạnh vẫn cứ chan chưa tình người, dạt dào sức sống mà không hề bị luỵ, đau thương, yếu hèn. Càng yêu, càng nhớ thì con người ta càng bộc lộ sự lạc quan trữ tình và chung thuỷ của mình:
“Chờ anh cho tuổi em cao
Cho duyên em muộn má đào em phai”
Để diễn tả được hết nỗi long cũng như tính nhân văn sâu sắc, bài ca dao mang những yếu tố thi pháp và biện pháp nghệ thuật quen thuộc: điệp từ, điệp ngữ gây cảm giác quyến luyến mà dồn dập; dùng hình ảnh tượng trưng và nhân hoá chúng đạt hiệu quả cao. Quan trọng hơn cả, ẩn chưa trong toàn bài ca dao là nét đẹp kín đáo, thu hút, đằm thắm nữ tính; khá đặc biệt so với các khúc ca thương nhớ khác dung hình thức biểu đạt trực tiếp…:
“Nhớ ai hết đứng lại ngồi,
Ngày đêm tơ tưởng một người tình nhân.”

“Nhớ ai nhớ mãi thế này?
Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn”

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?

...Vì thế, “Khăn thương nhớ ai” luôn có một chỗ đứng nhất định trong ca dao nỗi nhớ nói riêng , toàn bộ kho tàng văn học dân gian nói chung và một vị trí riêng trong lòng người đọc. Vượt chặng đường “những mấy nghìn năm”, bài ca dao sẽ mãi là viên ngọc long lanh, tuy hình thành từ bàn tay thô kệch nhưng được gọt giũa bởi tấm lòng và tâm hồn đẹp đẽ cao quý của người bình dân Việt Nam.