-Thời gian làm bài 90 phút ngày Thứ 6 (20/10/2016)
1. Đọc hiểu VB: 4.0 điểm
- Phương thức biểu đạt: Gọi tên, lý giải
-Nội dung chính của vb: Luận đề, luận điểm chính.
-Ý nghĩa chi tiết, hình ảnh: Nghĩa đen, nghĩa bóng ( ý tác giả muốn nói? Thái độ tình cảm đới với điều đang được nhắc tới? Gửi đến người đọc thông điệp gì? Bài học gì? Tư tưởng gì?...)
-Biện pháp tu từ: Gọi tên, biểu hiện, ý nghĩa (nội dung? Nghệ thuật? đặc điểm gì?)
- Viết đoạn: 7-10 câu theo yêu cầu đề ( nội dung có liên quan đến văn bản đề đã cho)
+Mở đoạn:0.25 đ
+Thân đoạn:0.5đ
+Kết đoạn:0.25 đ
2. Tạo lập văn bản tự sự: kết hợp yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận ( Kể chuyện theo vai nhân vật chính)
- Phạm vi: TC,ADV-MC-TT, CT Mơtao Mơ xây
-Thang điểm:
+MB: 0.5
+TB:5.0 điểm
- Kể chuyện theo vai nhân vật chính được những sư việc chi tiết tiêu biểu (1.5đ)
Kết hợp yếu tổ miêu tả ( lời nói, tâm lý, hành động gắn với chi tiết, sự việc đang kể (2.0đ) + lời văn giàu cảm xúc (0.5 điểm)
-Rút ra bài học theo chuyên của nhân vật chính (1.0đ)
+Kết bài:0.5 điểm
3. Phân công chuẩn bị: Han chót chủ nhật 16/10/2016
Nhóm 1: TC- vai Tấm
Nhóm 2: TC-vai Cám
Nhóm 3: TC- vai Bụt
Nhóm 4: ADV-MC-TT- vai ADV
Nhóm 5: ADV-MC-TT- vai MC
Nhóm 6: ADV-MC-TT- vai TT
Nhóm 7: ADV-MC-TT- vai Rùa Vàng
Nhóm 8: CT Mơtao Mơ xây-Vai Damsan
- Sản phẩm chuẩn bị nộp trên Driver: 10A12016-2017 /Thư mục Truyện dân gian/ Bài viết số 2
-Qui ước đặt tên file: Tên nhóm-Tên bài-Vai kể
-----------------------------
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn tự sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn tự sự. Hiển thị tất cả bài đăng
12 thg 10, 2016
6 thg 11, 2012
| Bí quyết “nhập vai” (MT 1067 - 29/10/2012) | ||
Sau khi bài văn “nhập vai” Cám (chỉ được 3,25 điểm) của một bạn học sinh ở Hà Nội được đưa lên mạng, nhiều teen băn khoăn: “nhập vai” thế nào để đạt điểm cao khi làm văn?
Mực Tím đã nhờ cô Lê Kim Mai (Tổ trưởng chuyên môn bộ môn Ngữ Văn, THPT Võ Thị Sáu, Q. Bình Thạnh) giải đáp thắc mắc ấy.
“Ác” thôi chưa đủ
- Bài văn không có phần mở bài để giới thiệu được thể loại (truyện cổ tích), phạm vi (truyện Tấm Cám) và vào vai nào (Cám) khi kể.
- Đề bài KHÔNG yêu cầu kể bằng ngôn ngữ hiện đại. Việc người viết thêm vào những từ ngữ hiện đại có thể tạo cảm giác vui tươi sinh động nhưng chỉ phù hợp với dạng đề sáng tạo - tưởng tượng, chứ không phải ở dạng kể lại này.
- Phần thân bài, lẽ ra bạn ấy phải kể lại toàn bộ diễn biến theo đúng vai và không được thêm thắt chi tiết.
- Phần kết luận, người làm bài chưa rút ra được bài học kinh nghiệm và thông điệp hành động. Ví dụ: Nếu nhập vai Tấm, bạn có thể củng cố niềm tin: “Sau những biến cố đó, tôi càng tin hơn vào cái thiện và cái thiện sẽ luôn chiến thắng cái ác. Mai này, dù hoàn cảnh có khắc nghiệt hơn nữa, tôi vẫn quyết giữ vững bản chất của mình”. Hoặc, nếu là Cám, bài học có thể là: “Ai cũng có nhu cầu được hạnh phúc, đó là ước nguyện chính đáng. Nhưng mưu cầu hạnh phúc bằng cách hãm hại và chiếm đoạt của người khác là một phương pháp sai lầm mà lẽ ra tôi không nên chọn”.
Các bạn thấy đó, văn tự sự, dạng nhập vai luôn tạo hứng thú, vì chỉ cần “kể lại” cái đã có. Nhưng bạn phải tỉnh táo trước khi nhập vai…
Tự phỏng vấn mình trước khi “nhập vai”
Nếu lần sau lại được “nhập vai”, bạn nhớ tự phỏng vấn mình trước nhé:
- Kiểu bài và phương pháp? Tự sự, nhưng nếu là nhập vai để kể lại, bạn phải kể đúng vai và tình tiết; nếu đề cho phép tưởng tượng - sáng tạo (dạng một kết cục khác: cuộc hội ngộ của Tấm và Cám ở địa ngục, hội ngộ của Mỵ Châu Trọng Thủy nơi Long Cung…) bạn có thể tha hồ “chế biến”.
- Phạm vi dẫn chứng? Nếu không được yêu cầu kể bằng ngôn ngữ hay bối cảnh hiện đại thì bạn phải kể đúng truyện được yêu cầu, đúng tình tiết và bối cảnh lịch sử.
- Ai cũng muốn sống tốt hơn? Bạn muốn người khác đọc văn của bạn, sau đó yêu đời hơn, sống tốt hơn, hay đọc văn xong, chẳng thay đổi được gì thậm chí mất niềm tin? Hãy luôn đánh giá lại vấn đề, nhận thức được gì từ việc đó và gửi đến người đọc một thông điệp sống thật ý nghĩa bạn nha!
Hi vọng sau khi đọc bài viết này, các bạn sẽ trở thành những người “nhập vai” tuyệt vời trong các bài tập làm văn tiếp theo!
TRƯƠNG TUẤN gh
|
23 thg 10, 2012
Suy ngẫm về cách đánh giá bài văn theo hướng "Mở"
Bài văn nhập vai Tấm Cám: Thành công khi vào vai "phản diện"
13/10/2012 09:14 am
Nhà nghiên cứu văn học dân gian Nguyễn Hùng Vĩ cho rằng nữ sinh nhập vai Cám khiến người đọc cảm thấy ghét Cám tức là đã thành công.
>> Những bài văn "lạ" gây sốt|
Xung quanh câu chuyện về bài văn gây sốc của nữ sinh nhập vai Cám kể về truyện cổ tích Tấm Cám đang gây xôn xao cư dân mạng, PV đã có cuộc trò chuyện với chuyên gia văn học dân gian, giảng viên khoa Văn học Nguyễn Hùng Vĩ (ĐH KHXH&NV-ĐHQGHN)..
Đề văn "hãy nhập vai nhân vật Cám, kể lại chuyện cổ tích Tấm Cám", nhưng học sinh lại sử dụng các từ ngữ nó, con này, con kia, rách rưới mà còn đòi theo quý tộc, oai như cóc… là những từ ngữ hiện đại, chợ búa. Việc lựa chọn ngôn từ trong bài văn này của nữ sinh liệu có chính xác không thưa ông?
Đã gọi là “nhập vai” thì phải nhập cho đạt. Nếu nhập không đạt thì sẽ không đúng yêu cầu “nhập vai” của đề bài. Cô Cám là một nhân vật phản diện, bị nhân dân căm ghét từ nhiều đời nay. Nhập vai để người đọc ghét Cám cũng là một lựa chọn.
Tôi đọc thì thấy, qua bài làm của thí sinh trên, nhân vật Cám đáng ghét thật, và hiểu rằng: Trong cuộc sống ngày nay, còn thật nhiều Cám hiện đại, thậm chí còn tệ hơn cả Cám ngày xưa.
- Nữ sinh đã nhập vai diễn tả lại cụ thể từng việc Cám đã hại Tấm ra sao với một ngôn ngữ rất lạnh lùng. Liệu việc “nhập vai” quá đạt có khiến những thầy cô giáo phải suy nghĩ?
Ngôn ngữ Cám trong bài là ngôn ngữ tiêu cực của nhân vật “Cám hiện đại”. Tác giả bài viết đã cố gắng thâm nhập vào ngôn ngữ đó để tăng thêm phần đáng ghét của nhân vật.
Trong văn học, người ta gọi đó là “ngôn ngữ nhân vật”. Chí Phèo chửi giỏi thì chưa hẳn Nam Cao đã chửi như vậy trong đời nhà văn đáng kính này.
Cần phân biệt “ngôn ngữ nhân vật” với “ngôn ngữ của người kể truyện”. Còn độ non nớt của ngôn ngữ người kể truyện là một chuyện khác. Trong bài thi này, tác giả hoàn toàn “nhập vai”, và đó là ngôn ngữ của nhân vật Cám.
- Ông đánh giá gì về sự vô cảm của một bộ phận giới trẻ hiện nay thông qua cách các em thể hiện tư tưởng của mình qua cách hành văn trong văn học?
Tôi không cho rằng, tác giả đã nhập vai “hơn cả nhân vật trong câu chuyện”, mà nghĩ rằng tác giả đã xây dựng một hình ảnh Cám hiện đại trên chất liệu truyện cổ tích. “Khác” chứ không phải là “hơn”.
Làm sao bài văn này lại có thể sống lâu hơn câu chuyện cổ tích kia chứ. Ngôn ngữ “lạnh lùng” mà tác giả dùng là một thành công của lối kể tự sự. Còn đánh giá “vô cảm” hay không vô cảm thì phải xem lại. Tôi đọc tôi rất bức xúc vì tôi hiểu rằng, xã hội có nhiều Cám như thế lắm.
Có lối viết đầy tình cảm của Thạch Lam mà cũng có lối viết khách quan của Nam Cao chứ.
Còn nếu nói một “cách hành văn trong văn học” của các em học sinh phổ thông thì chung chung quá. Vì văn học rất phong phú và đa dạng. Cần trước hết, phải điều tra xã hội học mới nên nhận định như vậy.
- Có ý kiến chuyên gia tâm lý cho rằng các em học sinh phổ thông bây giờ không còn thích các câu chuyện cổ tích xưa cũ nữa nên không thể “nhập vai” một cách sâu sắc?
Tôi không rõ, ngày xưa người ta yêu truyện cổ tích như thế nào, chỉ đọc được rằng, dân số 95% mù chữ thì đọc cái gì cơ chứ? Họ kể thôi. Mà trung bình trên tổng dân số, mỗi ngày kể và nghe bao nhiêu truyện thì cũng có ai nghiên cứu thống kê ra đâu?
Tôi biết đọc từ năm 1962, truyện đọc lúc đó, truyện ngắn và tiểu thuyết nhiều hơn truyện cổ tích mất rồi. Mỗi thời đại có món ăn tinh thần của thời đại đó. Nếu như, chưa sáng tạo ra được một món ăn tinh thần “ngon” hơn truyện cổ tích là lỗi của cả nền văn học chúng ta.
- Hiện nay đoạn kết trong SGK lớp 10 đã được sửa đổi cho nhẹ nhàng hơn. Ông đánh giá gì về điều này?
Về đoạn kết truyện Tấm Cám trong SGK lớp 10, tôi cho đó cũng là một cách kể, cách kể đó chung tinh thần với cách kể của cụ Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Nhưng bỏ đi những chi tiết muối mắm, ăn mắm, lời rủa của quạ. Đã gọi là một “cách kể” thì là chấp nhận được.
Truyện cổ tích không có “bản gốc”, không có “nguyên bản” nên nhà làm sách có quyền kể theo ý mình.
Còn để như cách kể của cụ Nguyễn Đổng Chi cũng không sao cả. Tôi đọc Kinh Thánh và Đại Tạng kinh, thấy trong đó đầy rẫy những cậu chuyện tràn máu và nước mắt, thậm chí gớm ghiếc. Ấy vậy mà, các tôn giáo đó vẫn là những tôn giáo từ thiện đấy thôi!
Chả nhẽ lại không đáng cảnh báo cho học sinh lớp 10, có Giấy chứng minh nhân dân rồi rằng : Hiện tại và tương lai, nhân loại vẫn đầy tội ác và có thể, chúng ta phải đối mặt với những tội ác còn kinh khủng hơn. Vấn đề là dạy như thế nào trong vấn đề đó.
Xin cảm ơn ông!
Theo VTC
|
8 thg 11, 2011
Suy ngẫm: Ý nghĩa kết thúc truyện Tấm Cám?
Truyện Tấm Cám _ Một cách nhìn khác
(Dân trí) - Hiếm có một tác phẩm văn học nào ở ta được bàn luận nhiều và cũng bị thay đổi nhiều như truyện Tấm Cám. Nó từng được đưa vào giảng dạy trong hệ tiểu học nhưng rồi bị bỏ ra. Gần đây, nó lại trở lại ở cấp cao hơn, sách Ngữ văn lớp 10.
>> Độc giả đề xuất bỏ truyện Tấm Cám khỏi SGK
>> Sách giáo khoa sửa truyện Tấm Cám
(Minh họa: Ngọc Diệp)
Sự “tái xuất giang hồ” của truyện Tấm Cám lại một lần nữa dấy lên những cuộc bàn luận về việc sửa phần cuối câu chuyện. Trong truyện Tấm Cám của Nguyễn Đổng Chi, đoạn kết viết:
Sau khi vua cho đón Tấm về cung “… Cám thấy chị trẻ đẹp hơn xưa, sinh lòng ghen ghét, ao ước cũng được trắng, được tươi giòn như Tấm. Nó giả vờ như không biết chuyện gì, hỏi Tấm:
- Chị Tấm ơi, chị Tấm, chị dầm sương giãi nắng, đi vắng khá lâu, sao giờ chị trắng?
Tấm đáp:
- Có muốn trắng để chị giúp cho.
Cám hí hửng bằng lòng ngay. Tấm sai người đào một cái hố, bảo con Cám tụt xuống rồi sai người đem nước sôi dội vào con Cám, con Cám chết còng queo dưới hố. Tấm đem xác con Cám làm mắm gửi cho dì ghẻ, nói là quà của con gái mụ gửi biếu. Mẹ con Cám tưởng là quà của con thật, lấy làm sung sướng, ngày nào mụ cũng giở mắm ra ăn, khen lấy khen để.
Một con quạ bén hơi, bay đến đậu trên nóc nhà, nhìn xuống kêu:
- Ngon gì mà ngon, mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng.
Mụ chửi bới quạ, xua đuổi con quạ bay đi. Đến ngày mắm gần hết, nhòm vào chĩnh, mụ mới nhìn thấy đầu lâu con mình..., uất lên, ngã vật xuống đất mà chết”.
Cách đây khoảng 20 năm cũng đã từng bùng lên cuộc tranh luận xung quanh cái kết “độc nhất, vô nhị” của truyện Tấm Cám. Nhiều ý kiến cho rằng đoạn kết của truyện quá dã man, không phù hợp với truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam. Ngược lại, có ý kiến cho rằng kết như thế là hợp lý bởi chính Cám đã cùng với mẹ mình 4 lần giết chị gái (Tấm). Để không bị giết lần thứ 5, Tấm không còn cách xử lý nào khác bởi ngày nào mẹ con Cám còn sống thì sự sống của Tấm còn bị đe dọa.
Sau đó, sách giáo khoa đã bỏ truyện Tấm Cám ra khỏi chương trình. Trong truyện Tấm Cám của nhiều nhà xuất bản cũng lược bỏ đoạn này.
Gần đây, dư luận lại xôn xao xung quanh SGK lớp 10 đưa truyện Tấm Cám vào chương trình giảng dạy. Đoạn cuối được lược bỏ, sửa lại như sau: “Tấm sai quân hầu đào một cái hố sâu và đun một nồi nước sôi. Tấm bảo Cám xuống hố rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố. Cám chết. Mụ dì ghẻ thấy vậy cũng lăn đùng ra chết". Câu chuyện nhẹ nhàng hơn, đỡ ghê rợn hơn.
Ngày còn đi học, đọc đến đoạn Tấm làm mắm Cám gửi về cho dì ghẻ, tôi rất hả hê, khoái chí.
Rồi lớn lên, tôi thấy chuyện đó thật ghê rợn. Người chị dùng nước sôi để giết em gái cùng cha khác mẹ của mình đã là hành động độc ác đến man rợ nhưng sau đó còn làm mắm để gửi về cho người mẹ thì sự độc ác đến ghê sợ… Việc cắt bỏ đoạn kết là hợp lý.
Nhưng giờ đây, tôi lại suy nghĩ khác. Câu chuyện Tấm Cám đã tồn tại vượt qua thời gian như vậy không thể là không có lý. Vậy thì vì sao dân tộc Việt Nam với truyền thống nhân ái, nhân văn lại chấp nhận cái đoạn kết miêu tả sự độc ác ghê rợn đến như vậy? Thông điệp của cha ông gửi lại cho chúng ta là gì? Phải chăng chúng ta chưa hiểu của tiền nhân?
Theo tôi, ở đây tồn tại hai nhân vật Tấm ở hai thời điểm khác nhau. Một cô Tấm dịu hiền thủa hàn vi và bà hoàng hậu Tấm độc ác khi có quyền lực. Vì sao một cô Tấm mồ côi, lam lũ nhưng yêu em, thương cha, tin tưởng dì ghẻ, một con người giàu lòng nhân ái, yêu thương nhưng khi thành hoàng hậu đã trở nên độc ác đến ghê sợ như vậy? Phải chăng chính bởi Tấm, một cô thôn nữ nghèo, không được ăn học tức là chưa được trang bị tri thức để làm người quyền quý bỗng dưng trở thành hoàng hậu nhờ sự trợ giúp của hư vô chính là cội nguồn của những hành vi độc ác của Tấm sau này?
Quyền lực rất dễ làm nhân tâm tha hóa hay nói cách khác, đó là sự tha hóa nhân tâm khi có quyền lực. Sự ngu dốt cộng với quyền lực sẽ đẻ ra tội ác ghê rợn. Điều đó đã hơn một lần xảy ra trong lịch sử.
Phải chăng đó chính là thông điệp mà tổ tiên muốn gửi đến cho chúng ta hôm nay?
Hiện nay đang tồn tại hai quan điểm. Một là không đưa vào chương trình giảng dạy phổ thông. Hai là sửa, bỏ đoạn cuối. Theo tôi, cả hai cách làm trên đều ấu trĩ. Hãy để cốt truyện như nó đã từng tồn tại. Có điều, khi giảng dạy, cần phải phân tích sâu sắc sự tha hóa của nhân vật Tấm để từ đó, rút ra bài học về sự tha hóa bởi quyền lực của con người.
Bùi Hoàng Tám
------------------------
193 bình luận
Gửi bình luận 1 - Long Vân - Nam - 22 tuổi - Từ Hà Nội - 08:14 08-11-2011Vật chất sinh ra ý thức. Các Mác đã nói thế còn gì. Theo tôi thì nên giữ nguyên cốt truyện như nguyên bản của nó. Thay vì chỉnh sửa nội dung làm cho tam sao thất bản thì các nhà giáo hãy phân tích cho học sinh hiểu được hết các khía cạnh của câu truyện, từ đó mà rút ra được những bài học cho chính bản thân mình. Đó cũng là 1 cách giáo dục vậy.
----------
2 - Nguyễn ngọc Quang - Nam - 23 tuổi - Từ Hưng Yên - 08:16 08-11-2011Tôi xin đồng ý vói quan điểm của tác giả Bùi Hoàng Tám
---------
3 - Hoa Nhược Hàn - Nữ - 23 tuổi - Từ Tp.Hồ Chí Minh - 08:19 08-11-2011Bao nhiêu đứa trẻ luôn nghĩ nằm lòng "cô Tấm" là 1 người tốt, vậy với cách nói của bạn mình thấy nó đã làm mất đi hình ảnh đó. Sao bạn không nghĩ mẹ con của Cám đã nhiều lần giết hại Tấm, chịu hậu quả như thế là luật nhân quả??? Ở thời đại bây giờ, nếu bạn bị đối xử như Tấm bạn sẽ làm như thế nào? Có tha thứ cho người ta được hay không??? Theo mình nghĩ nếu muốn sửa lại kết của truyện thì hãy để giống như Thạch Sanh Lý Thông, mẹ con Cám bị sét đánh - làm chuyện ác thì sẽ bị quả báo
4 - Hoàng Trung - Nam - 54 tuổi - Từ Bắc Giang - 08:24 08-11-2011- Trong tác phẩm ca khúc" Tình yêu bên bờ sông quan họ" có đoạn " Em là cô tấm thảo hiền...." nếu không có câu truyện Tấm Cám Nhạc sỹ sẽ lấy nhân vật nào để gép cho một tình yêu đẹp bên dòng sông Cầu...
5 - nguyen anh hao - Nam - 47 tuổi - Từ Hà Nội - 08:24 08-11-2011Đồng tình với ý kiến của bạn Tám.Không có gì vô lý mà trường tồn với thời gian,chẳng qua chúng ta không tìm thấy chân lý trong những điều tưởng như vô lý mà thôi.
6 - QuangMinh - Nam - 32 tuổi - Từ Hải Phòng - 08:25 08-11-2011Nên bỏ hẳn truyện này ra khỏi sách giáo khoa, bởi vì:
1- Còn rất nhiều truyện khác có ý nghĩa hơn
2- Tội ác lại chồng chất lên tội ác, Cám thực ra rất đáng thương...Người chủ mưu(mẹ Cám) lại không bị trừng phạt theo đúng pháp luật (không bị xử) nên cũng chẳng biết tội lỗi của mình là gì.
3- Tội ác kinh khủng nhất trong truyện lại do Tấm gây ra, và khi kết thúc Tấm vẫn sống ngoài vòng pháp luật. Tội ác sẽ sống mãi mãi.....
-------------------
7 - hồđức tài - Nam - 22 tuổi - Từ Tp.Hồ Chí Minh - 08:25 08-11-2011Hay lắm. đồng tình với tác giả.1 tác phẩm văn học sâu sắc nhất là ở đoạn kết, đừng quá đề cao hình tượng cô tấm đã ăn sâu vào con người viêt nam.
------------------
8 - Nguyễn Văn Tùng - Nam - 27 tuổi - Từ Thanh Hóa - 08:26 08-11-2011Bùi Hoàng Tám viết đoạn kết rất hay. Đúng là như thế hãy để chuyện tấm cám tồn tại nguyên bản không sửa. Có điều người đọc, người học phải có cái nhìn sâu và rộng hơn. Có thể tác giả đã có cái nhìn về sự phát triển tâm lý của nhân vật khi có được sự sung sướng và quyền lực nhưng tác giả lại chưa thể thể hiện trong câu chuyện để cho người đọc nhận ra, để đến bây giờ mới có những tranh luận về câu truyện Tấm Cám này.
----------------------
9 - Duc Vu - Nam - 34 tuổi - Từ Hà Nội - 08:26 08-11-2011Theo tôi thì nên bỏ hẳn truyện Tấm Cám ra khỏi chương trình SGK
---------------
10 - hạ quân tường - Nam - 21 tuổi - Từ Hà Nội - 08:28 08-11-2011Khi con người có quyền lực, thì có thể biến từ 1 người chân chất,tốt bụng và hiền lành thành 1 người tàn ác Nhưng nó phải cần thời gian để có thể như thế. Chứ ko phải,đột nhiên có quyền lực ,có thể tàn ác ngay. Trong khi tấm vốn dĩ có trái tim nhân hậu. Vì thế 1 nửa đồng tình với bài viết,nửa không. Theo tôi, ý kiến của bạn cũng ấu trí!
(Dân trí) - Hiếm có một tác phẩm văn học nào ở ta được bàn luận nhiều và cũng bị thay đổi nhiều như truyện Tấm Cám. Nó từng được đưa vào giảng dạy trong hệ tiểu học nhưng rồi bị bỏ ra. Gần đây, nó lại trở lại ở cấp cao hơn, sách Ngữ văn lớp 10.
>> Độc giả đề xuất bỏ truyện Tấm Cám khỏi SGK
>> Sách giáo khoa sửa truyện Tấm Cám
(Minh họa: Ngọc Diệp)
Sự “tái xuất giang hồ” của truyện Tấm Cám lại một lần nữa dấy lên những cuộc bàn luận về việc sửa phần cuối câu chuyện. Trong truyện Tấm Cám của Nguyễn Đổng Chi, đoạn kết viết:
Sau khi vua cho đón Tấm về cung “… Cám thấy chị trẻ đẹp hơn xưa, sinh lòng ghen ghét, ao ước cũng được trắng, được tươi giòn như Tấm. Nó giả vờ như không biết chuyện gì, hỏi Tấm:
- Chị Tấm ơi, chị Tấm, chị dầm sương giãi nắng, đi vắng khá lâu, sao giờ chị trắng?
Tấm đáp:
- Có muốn trắng để chị giúp cho.
Cám hí hửng bằng lòng ngay. Tấm sai người đào một cái hố, bảo con Cám tụt xuống rồi sai người đem nước sôi dội vào con Cám, con Cám chết còng queo dưới hố. Tấm đem xác con Cám làm mắm gửi cho dì ghẻ, nói là quà của con gái mụ gửi biếu. Mẹ con Cám tưởng là quà của con thật, lấy làm sung sướng, ngày nào mụ cũng giở mắm ra ăn, khen lấy khen để.
Một con quạ bén hơi, bay đến đậu trên nóc nhà, nhìn xuống kêu:
- Ngon gì mà ngon, mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng.
Mụ chửi bới quạ, xua đuổi con quạ bay đi. Đến ngày mắm gần hết, nhòm vào chĩnh, mụ mới nhìn thấy đầu lâu con mình..., uất lên, ngã vật xuống đất mà chết”.
Cách đây khoảng 20 năm cũng đã từng bùng lên cuộc tranh luận xung quanh cái kết “độc nhất, vô nhị” của truyện Tấm Cám. Nhiều ý kiến cho rằng đoạn kết của truyện quá dã man, không phù hợp với truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam. Ngược lại, có ý kiến cho rằng kết như thế là hợp lý bởi chính Cám đã cùng với mẹ mình 4 lần giết chị gái (Tấm). Để không bị giết lần thứ 5, Tấm không còn cách xử lý nào khác bởi ngày nào mẹ con Cám còn sống thì sự sống của Tấm còn bị đe dọa.
Sau đó, sách giáo khoa đã bỏ truyện Tấm Cám ra khỏi chương trình. Trong truyện Tấm Cám của nhiều nhà xuất bản cũng lược bỏ đoạn này.
Gần đây, dư luận lại xôn xao xung quanh SGK lớp 10 đưa truyện Tấm Cám vào chương trình giảng dạy. Đoạn cuối được lược bỏ, sửa lại như sau: “Tấm sai quân hầu đào một cái hố sâu và đun một nồi nước sôi. Tấm bảo Cám xuống hố rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố. Cám chết. Mụ dì ghẻ thấy vậy cũng lăn đùng ra chết". Câu chuyện nhẹ nhàng hơn, đỡ ghê rợn hơn.
Ngày còn đi học, đọc đến đoạn Tấm làm mắm Cám gửi về cho dì ghẻ, tôi rất hả hê, khoái chí.
Rồi lớn lên, tôi thấy chuyện đó thật ghê rợn. Người chị dùng nước sôi để giết em gái cùng cha khác mẹ của mình đã là hành động độc ác đến man rợ nhưng sau đó còn làm mắm để gửi về cho người mẹ thì sự độc ác đến ghê sợ… Việc cắt bỏ đoạn kết là hợp lý.
Nhưng giờ đây, tôi lại suy nghĩ khác. Câu chuyện Tấm Cám đã tồn tại vượt qua thời gian như vậy không thể là không có lý. Vậy thì vì sao dân tộc Việt Nam với truyền thống nhân ái, nhân văn lại chấp nhận cái đoạn kết miêu tả sự độc ác ghê rợn đến như vậy? Thông điệp của cha ông gửi lại cho chúng ta là gì? Phải chăng chúng ta chưa hiểu của tiền nhân?
Theo tôi, ở đây tồn tại hai nhân vật Tấm ở hai thời điểm khác nhau. Một cô Tấm dịu hiền thủa hàn vi và bà hoàng hậu Tấm độc ác khi có quyền lực. Vì sao một cô Tấm mồ côi, lam lũ nhưng yêu em, thương cha, tin tưởng dì ghẻ, một con người giàu lòng nhân ái, yêu thương nhưng khi thành hoàng hậu đã trở nên độc ác đến ghê sợ như vậy? Phải chăng chính bởi Tấm, một cô thôn nữ nghèo, không được ăn học tức là chưa được trang bị tri thức để làm người quyền quý bỗng dưng trở thành hoàng hậu nhờ sự trợ giúp của hư vô chính là cội nguồn của những hành vi độc ác của Tấm sau này?
Quyền lực rất dễ làm nhân tâm tha hóa hay nói cách khác, đó là sự tha hóa nhân tâm khi có quyền lực. Sự ngu dốt cộng với quyền lực sẽ đẻ ra tội ác ghê rợn. Điều đó đã hơn một lần xảy ra trong lịch sử.
Phải chăng đó chính là thông điệp mà tổ tiên muốn gửi đến cho chúng ta hôm nay?
Hiện nay đang tồn tại hai quan điểm. Một là không đưa vào chương trình giảng dạy phổ thông. Hai là sửa, bỏ đoạn cuối. Theo tôi, cả hai cách làm trên đều ấu trĩ. Hãy để cốt truyện như nó đã từng tồn tại. Có điều, khi giảng dạy, cần phải phân tích sâu sắc sự tha hóa của nhân vật Tấm để từ đó, rút ra bài học về sự tha hóa bởi quyền lực của con người.
Bùi Hoàng Tám
------------------------
193 bình luận
Gửi bình luận 1 - Long Vân - Nam - 22 tuổi - Từ Hà Nội - 08:14 08-11-2011Vật chất sinh ra ý thức. Các Mác đã nói thế còn gì. Theo tôi thì nên giữ nguyên cốt truyện như nguyên bản của nó. Thay vì chỉnh sửa nội dung làm cho tam sao thất bản thì các nhà giáo hãy phân tích cho học sinh hiểu được hết các khía cạnh của câu truyện, từ đó mà rút ra được những bài học cho chính bản thân mình. Đó cũng là 1 cách giáo dục vậy.
----------
2 - Nguyễn ngọc Quang - Nam - 23 tuổi - Từ Hưng Yên - 08:16 08-11-2011Tôi xin đồng ý vói quan điểm của tác giả Bùi Hoàng Tám
---------
3 - Hoa Nhược Hàn - Nữ - 23 tuổi - Từ Tp.Hồ Chí Minh - 08:19 08-11-2011Bao nhiêu đứa trẻ luôn nghĩ nằm lòng "cô Tấm" là 1 người tốt, vậy với cách nói của bạn mình thấy nó đã làm mất đi hình ảnh đó. Sao bạn không nghĩ mẹ con của Cám đã nhiều lần giết hại Tấm, chịu hậu quả như thế là luật nhân quả??? Ở thời đại bây giờ, nếu bạn bị đối xử như Tấm bạn sẽ làm như thế nào? Có tha thứ cho người ta được hay không??? Theo mình nghĩ nếu muốn sửa lại kết của truyện thì hãy để giống như Thạch Sanh Lý Thông, mẹ con Cám bị sét đánh - làm chuyện ác thì sẽ bị quả báo
4 - Hoàng Trung - Nam - 54 tuổi - Từ Bắc Giang - 08:24 08-11-2011- Trong tác phẩm ca khúc" Tình yêu bên bờ sông quan họ" có đoạn " Em là cô tấm thảo hiền...." nếu không có câu truyện Tấm Cám Nhạc sỹ sẽ lấy nhân vật nào để gép cho một tình yêu đẹp bên dòng sông Cầu...
5 - nguyen anh hao - Nam - 47 tuổi - Từ Hà Nội - 08:24 08-11-2011Đồng tình với ý kiến của bạn Tám.Không có gì vô lý mà trường tồn với thời gian,chẳng qua chúng ta không tìm thấy chân lý trong những điều tưởng như vô lý mà thôi.
6 - QuangMinh - Nam - 32 tuổi - Từ Hải Phòng - 08:25 08-11-2011Nên bỏ hẳn truyện này ra khỏi sách giáo khoa, bởi vì:
1- Còn rất nhiều truyện khác có ý nghĩa hơn
2- Tội ác lại chồng chất lên tội ác, Cám thực ra rất đáng thương...Người chủ mưu(mẹ Cám) lại không bị trừng phạt theo đúng pháp luật (không bị xử) nên cũng chẳng biết tội lỗi của mình là gì.
3- Tội ác kinh khủng nhất trong truyện lại do Tấm gây ra, và khi kết thúc Tấm vẫn sống ngoài vòng pháp luật. Tội ác sẽ sống mãi mãi.....
-------------------
7 - hồđức tài - Nam - 22 tuổi - Từ Tp.Hồ Chí Minh - 08:25 08-11-2011Hay lắm. đồng tình với tác giả.1 tác phẩm văn học sâu sắc nhất là ở đoạn kết, đừng quá đề cao hình tượng cô tấm đã ăn sâu vào con người viêt nam.
------------------
8 - Nguyễn Văn Tùng - Nam - 27 tuổi - Từ Thanh Hóa - 08:26 08-11-2011Bùi Hoàng Tám viết đoạn kết rất hay. Đúng là như thế hãy để chuyện tấm cám tồn tại nguyên bản không sửa. Có điều người đọc, người học phải có cái nhìn sâu và rộng hơn. Có thể tác giả đã có cái nhìn về sự phát triển tâm lý của nhân vật khi có được sự sung sướng và quyền lực nhưng tác giả lại chưa thể thể hiện trong câu chuyện để cho người đọc nhận ra, để đến bây giờ mới có những tranh luận về câu truyện Tấm Cám này.
----------------------
9 - Duc Vu - Nam - 34 tuổi - Từ Hà Nội - 08:26 08-11-2011Theo tôi thì nên bỏ hẳn truyện Tấm Cám ra khỏi chương trình SGK
---------------
10 - hạ quân tường - Nam - 21 tuổi - Từ Hà Nội - 08:28 08-11-2011Khi con người có quyền lực, thì có thể biến từ 1 người chân chất,tốt bụng và hiền lành thành 1 người tàn ác Nhưng nó phải cần thời gian để có thể như thế. Chứ ko phải,đột nhiên có quyền lực ,có thể tàn ác ngay. Trong khi tấm vốn dĩ có trái tim nhân hậu. Vì thế 1 nửa đồng tình với bài viết,nửa không. Theo tôi, ý kiến của bạn cũng ấu trí!
18 thg 10, 2011
30 thg 10, 2010
Tam đại con gà
Nguyễn Đức Thịnh
STT : 35
10A8
Đề : Hãy kể một truyện cười mà em yêu
Truyện : Tam đại con gà
Bài làm
Trong chương trình ngữ văn mười, truyện cười là những tác phẩm dân gian nhằm phê phán những điều sai trái, bất công, những thói hư tật xấu của nhân dân trong xã hội đương thời và mang đến sự giải trí, khuây khỏa cho người đọc. Trong đó, truyện cười “Tam đại con gà” là một tác phầm tiêu biểu của thể loại truyện trào phúng.
Xưa có anh học trò dốt nát nhưng hay lên mặt dạy chữ, có người tưởng “thầy” này hay chữ thật nên mời về dạy trẻ. Một hôm, thầy dạy đến chữ kê, thấy chữ có nhiều nét phức tạp, khó đọc nên thầy nói liều với lũ trẻ: “Dủ dỉ là con dù dì”. Sợ người ta nghe thấy nên thầy bắt bọn trẻ đọc khe khẽ để khỏi mang tiếng, sau đó, thầy đến thổ công nhà này xin ba đài dương, thế là được cà ba. Hôm sau, thầy đắc chí bảo bọn trẻ gào thật lớn câu : “Dủ dỉ là con dù dì, dủ dỉ là con dù dì,…”. Người nhà ở bên ngoài nghe thấy liền chạy vào, thắc mắc với thầy rằng thầy dạy chữ “kê” sai. Thầy tìm mọi cách chối quanh co, rồi sau cùng bảo rằng : Tôi dạy như thế là để cho cháu biết tận tam đại con gà kia !
Trong truyện này, “thầy” thực chất là một cậu học trò dốt nát, ít học, chỉ biết vài mặt chữ để hù dọa thiên hạ, nhưng lại hay tự nhận mình là người trí thức, thông thái, đó là điều đáng trách, đã vậy còn đi dạy học cho trẻ! Cái dốt, mà là cái dốt của học trò thì đáng chê mà không đáng cười, còn dốt mà hay làm ra vẻ ta đây, sĩ diện hão, giấu dốt, đó mới là điều đáng trách, đáng cười nhạo. Vì tính “học dốt hay nói chữ”, thầy đã tự đưa mình vào những tình huống khó xử, đã tự phơi bày cái dốt của mình bằng những mâu thuẫn trái tự nhiên làm trò cười cho thiên hạ. Thầy đã bị đưa vào những tình huống nào, cách giải quyết ra sao để tiếng cười có thể chảy xuyên suốt câu chuyện này?
Khi gặp chữ “kê”, thầy không biết đọc, thực ra, chữ này có mười hai nét, xếp vào loại chữ tương đối dễ thời bấy giờ, có những chữ có đến 36 nét, thế mà “thầy” cũng không biết, đó là một mâu thuẫn trái tự nhiên đáng cười. Nhưng còn đáng cười hơn, khi học trò hỏi gấp thì thầy nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì”. Thầy cuống vì sợ, còn nói liều vì dốt! Vì nói liều nên mới tuôn ra một câu vô nghĩa, ngớ ngẩn, nhưng chính vì thế lại càng đáng cười vì trên đời làm gì có con vật nào tên là dù dì? Thế là thầy “chữa cháy” bằng cách bảo học trò đọc khẽ để không bị người khác nghe thấy, vì sợ nhỡ nói bậy thì xấu hổ, mang tiếng, đó là mâu thuẫn trái tự nhiên thứ hai trong bài gây cười cho người đọc. Thầy bèn chạy đến thổ công xin ba đài dương, thổ công cho cả ba,… Thầy không thèm tra sách vở, cũng không hỏi ai mà lại đi hỏi thổ công! Lại thêm một điều trái tự nhiên thứ ba đáng cười nữa, ai lại đi hỏi chữ mà đến thổ công? Mà lại hỏi bằng cách xin âm dương? Rõ là thầy dốt mới làm như thế, đã vậy, thầy dốt mà còn mê tín dị đoan,... Hôm sau, thầy đắc chí bảo học trò gào thật to cái câu ngớ ngẩn đó. Không may, chủ nhà nghe thấy liền chạy vào thắc mắc, thầy lại bị đưa vào một tình huống gay cấn một lần nữa. Ở tình huống đầu tiên đáng lo ngại, nhưng dẫu sao cái dốt của thầy cũng chỉ mình thầy biết, học trò làm sao biết được? Nhưng ở tình huống thứ hai, chính chủ nhà đã phát hiện thầy dạy sai, cái dốt cua thầy bị phơi bày, rành rành ra đấy và không thể chối cãi,… Đến đây,tính gây cười của truyện đã đi gần đến đỉnh điểm, khi chủ nhà giở sách ra xem và khẳng định chữ kê là gà. Đó là một tình huống “ngàn cân treo sợi tóc”, tưởng như không thể lý giải được nữa. Thầy càng tìm cách thanh minh thì cái dốt càng lộ ra, càng đáng cười hơn. Dạy chữ “kê” mà đi đến tận tam đại con gà thì đã đáng cười, nhưng khi thầy giải thích về “tam đại con gà”, thì lúc này truyện đi đến đỉnh điểm của hài hước:
- “Thế này nhé! Dủ dỉ là chị con công, con công là ông con gà!”
Điều đó quá trái tự nhiên điến nỗi không thể nào chấp nhận được, chính vì thế đây chính là câu nói gây cười nhất trong cả truyện và cũng là một kết thúc với một tràng cười sảng khoái cho người đọc, trong đó mỗi người hiểu ra được ý nghĩa của câu chuyện qua tràng cười đó.
Truyện phê phán một đối tượng cụ thể là “ông thầy” dởm. Nhưng từ đó, truyện muốn nâng lên một ý nghĩa khái quát cao hơn: Phê phán sự dối trá với bản thân, với xã hội, rằng cái dốt không thể che đậy được, càng giấu càng bộc lộ ra, càng làm trò cười cho thiên hạ.
STT : 35
10A8
Đề : Hãy kể một truyện cười mà em yêu
Truyện : Tam đại con gà
Bài làm
Trong chương trình ngữ văn mười, truyện cười là những tác phẩm dân gian nhằm phê phán những điều sai trái, bất công, những thói hư tật xấu của nhân dân trong xã hội đương thời và mang đến sự giải trí, khuây khỏa cho người đọc. Trong đó, truyện cười “Tam đại con gà” là một tác phầm tiêu biểu của thể loại truyện trào phúng.
Xưa có anh học trò dốt nát nhưng hay lên mặt dạy chữ, có người tưởng “thầy” này hay chữ thật nên mời về dạy trẻ. Một hôm, thầy dạy đến chữ kê, thấy chữ có nhiều nét phức tạp, khó đọc nên thầy nói liều với lũ trẻ: “Dủ dỉ là con dù dì”. Sợ người ta nghe thấy nên thầy bắt bọn trẻ đọc khe khẽ để khỏi mang tiếng, sau đó, thầy đến thổ công nhà này xin ba đài dương, thế là được cà ba. Hôm sau, thầy đắc chí bảo bọn trẻ gào thật lớn câu : “Dủ dỉ là con dù dì, dủ dỉ là con dù dì,…”. Người nhà ở bên ngoài nghe thấy liền chạy vào, thắc mắc với thầy rằng thầy dạy chữ “kê” sai. Thầy tìm mọi cách chối quanh co, rồi sau cùng bảo rằng : Tôi dạy như thế là để cho cháu biết tận tam đại con gà kia !
Trong truyện này, “thầy” thực chất là một cậu học trò dốt nát, ít học, chỉ biết vài mặt chữ để hù dọa thiên hạ, nhưng lại hay tự nhận mình là người trí thức, thông thái, đó là điều đáng trách, đã vậy còn đi dạy học cho trẻ! Cái dốt, mà là cái dốt của học trò thì đáng chê mà không đáng cười, còn dốt mà hay làm ra vẻ ta đây, sĩ diện hão, giấu dốt, đó mới là điều đáng trách, đáng cười nhạo. Vì tính “học dốt hay nói chữ”, thầy đã tự đưa mình vào những tình huống khó xử, đã tự phơi bày cái dốt của mình bằng những mâu thuẫn trái tự nhiên làm trò cười cho thiên hạ. Thầy đã bị đưa vào những tình huống nào, cách giải quyết ra sao để tiếng cười có thể chảy xuyên suốt câu chuyện này?
Khi gặp chữ “kê”, thầy không biết đọc, thực ra, chữ này có mười hai nét, xếp vào loại chữ tương đối dễ thời bấy giờ, có những chữ có đến 36 nét, thế mà “thầy” cũng không biết, đó là một mâu thuẫn trái tự nhiên đáng cười. Nhưng còn đáng cười hơn, khi học trò hỏi gấp thì thầy nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì”. Thầy cuống vì sợ, còn nói liều vì dốt! Vì nói liều nên mới tuôn ra một câu vô nghĩa, ngớ ngẩn, nhưng chính vì thế lại càng đáng cười vì trên đời làm gì có con vật nào tên là dù dì? Thế là thầy “chữa cháy” bằng cách bảo học trò đọc khẽ để không bị người khác nghe thấy, vì sợ nhỡ nói bậy thì xấu hổ, mang tiếng, đó là mâu thuẫn trái tự nhiên thứ hai trong bài gây cười cho người đọc. Thầy bèn chạy đến thổ công xin ba đài dương, thổ công cho cả ba,… Thầy không thèm tra sách vở, cũng không hỏi ai mà lại đi hỏi thổ công! Lại thêm một điều trái tự nhiên thứ ba đáng cười nữa, ai lại đi hỏi chữ mà đến thổ công? Mà lại hỏi bằng cách xin âm dương? Rõ là thầy dốt mới làm như thế, đã vậy, thầy dốt mà còn mê tín dị đoan,... Hôm sau, thầy đắc chí bảo học trò gào thật to cái câu ngớ ngẩn đó. Không may, chủ nhà nghe thấy liền chạy vào thắc mắc, thầy lại bị đưa vào một tình huống gay cấn một lần nữa. Ở tình huống đầu tiên đáng lo ngại, nhưng dẫu sao cái dốt của thầy cũng chỉ mình thầy biết, học trò làm sao biết được? Nhưng ở tình huống thứ hai, chính chủ nhà đã phát hiện thầy dạy sai, cái dốt cua thầy bị phơi bày, rành rành ra đấy và không thể chối cãi,… Đến đây,tính gây cười của truyện đã đi gần đến đỉnh điểm, khi chủ nhà giở sách ra xem và khẳng định chữ kê là gà. Đó là một tình huống “ngàn cân treo sợi tóc”, tưởng như không thể lý giải được nữa. Thầy càng tìm cách thanh minh thì cái dốt càng lộ ra, càng đáng cười hơn. Dạy chữ “kê” mà đi đến tận tam đại con gà thì đã đáng cười, nhưng khi thầy giải thích về “tam đại con gà”, thì lúc này truyện đi đến đỉnh điểm của hài hước:
- “Thế này nhé! Dủ dỉ là chị con công, con công là ông con gà!”
Điều đó quá trái tự nhiên điến nỗi không thể nào chấp nhận được, chính vì thế đây chính là câu nói gây cười nhất trong cả truyện và cũng là một kết thúc với một tràng cười sảng khoái cho người đọc, trong đó mỗi người hiểu ra được ý nghĩa của câu chuyện qua tràng cười đó.
Truyện phê phán một đối tượng cụ thể là “ông thầy” dởm. Nhưng từ đó, truyện muốn nâng lên một ý nghĩa khái quát cao hơn: Phê phán sự dối trá với bản thân, với xã hội, rằng cái dốt không thể che đậy được, càng giấu càng bộc lộ ra, càng làm trò cười cho thiên hạ.
Nhưng nó PHẢI bằng hai mày
Hồ Thị Hạnh Nguyên
Lớp: 10A8
Đề bài: Hãy kể một truyện cười dân gian mà em yêu thích.
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam có biết bao tác phẩm đã đi vào lòng người đọc, trong đó không thể không nói đến truyện cười . Một trong những tác phẩm truyện cười đáng chú ý đó là “ Nhưng nó phải bằng hai mày ” đã vạch trần được lối xử kiện vì tiền của quan lại ngày xưa.
Làng kia có một viên lí trưởng nổi tiếng xử kiện giỏi. Một hôm Cải và Ngô đánh nhau rồi mang nhau đi kiện. Cải sợ mình kém thế nên phải lót trước cho thầy lí năm đồng. Ngờ đâu Ngô biện chè lá những mười đồng. Khi xử kiện thầy phán:
- Thằng Cải đánh thằng Ngô đau hơn, phạt một chục roi.
Cải vội xòe năm ngón tay nhìn thầy lí khẽ bẩm:
- Xin thầy xét lại, lẽ phải thuộc về con mà !
Thầy lí cũng xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, nói:
- Tao biết mày phải… nhưng nó lại phải… bằng hai mày !
Bằng sự kết hợp lời nói với cử chỉ, lối chơi chữ độc đáo, kết cấu chặt chẽ cộng với kết thúc bất ngờ, truyện đã vạch trần được lối xử kiệ vì tiền của quan lại. Các tác giả dân gian đã thành công trong việc xây dựng mâu thuẫn gây cười giữa thực tiễn việc quan làm với yêu cầu quan có được thể hiện rõ qua câu “ … nhưng nó lại… phải bằng hai mày! ” . Câu chuyện đã khép lại nhưng cũng đã trao cho ta những tiếng cười sảng khoái sau những giờ phút lao động, học tập mệt mỏi . Nội dung câu chuyện muốn phê phán những tên lại quan tham ô nhưng lại được tiếng xử kiện giỏi cũng góp phần tạo nên tiếng cười. Qua câu chuyện, ta thấy rõ được những tên quan xử kiện vì tiền là mối hiể họa đối với xã hội, người cũng xưa có ý khuyên ta không nên hối lộ để rồi chuốc lấy hoàn cảnh dở khóc dở cười như nhân vật Ngô và phải luôn cẩn thận trước các vụ kiện.
Truyện cười dân gian luôn là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng của người dân Việt Nam, đặc biệt “ Nhưng nó phải bằng hai mày ” sẽ luôn nhắc nhở chúng ta giá trị thực sự của lẽ phải chỉ có một, không nên hối lộ để rồi tiền mất tật mang.
Lớp: 10A8
Đề bài: Hãy kể một truyện cười dân gian mà em yêu thích.
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam có biết bao tác phẩm đã đi vào lòng người đọc, trong đó không thể không nói đến truyện cười . Một trong những tác phẩm truyện cười đáng chú ý đó là “ Nhưng nó phải bằng hai mày ” đã vạch trần được lối xử kiện vì tiền của quan lại ngày xưa.
Làng kia có một viên lí trưởng nổi tiếng xử kiện giỏi. Một hôm Cải và Ngô đánh nhau rồi mang nhau đi kiện. Cải sợ mình kém thế nên phải lót trước cho thầy lí năm đồng. Ngờ đâu Ngô biện chè lá những mười đồng. Khi xử kiện thầy phán:
- Thằng Cải đánh thằng Ngô đau hơn, phạt một chục roi.
Cải vội xòe năm ngón tay nhìn thầy lí khẽ bẩm:
- Xin thầy xét lại, lẽ phải thuộc về con mà !
Thầy lí cũng xòe năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, nói:
- Tao biết mày phải… nhưng nó lại phải… bằng hai mày !
Bằng sự kết hợp lời nói với cử chỉ, lối chơi chữ độc đáo, kết cấu chặt chẽ cộng với kết thúc bất ngờ, truyện đã vạch trần được lối xử kiệ vì tiền của quan lại. Các tác giả dân gian đã thành công trong việc xây dựng mâu thuẫn gây cười giữa thực tiễn việc quan làm với yêu cầu quan có được thể hiện rõ qua câu “ … nhưng nó lại… phải bằng hai mày! ” . Câu chuyện đã khép lại nhưng cũng đã trao cho ta những tiếng cười sảng khoái sau những giờ phút lao động, học tập mệt mỏi . Nội dung câu chuyện muốn phê phán những tên lại quan tham ô nhưng lại được tiếng xử kiện giỏi cũng góp phần tạo nên tiếng cười. Qua câu chuyện, ta thấy rõ được những tên quan xử kiện vì tiền là mối hiể họa đối với xã hội, người cũng xưa có ý khuyên ta không nên hối lộ để rồi chuốc lấy hoàn cảnh dở khóc dở cười như nhân vật Ngô và phải luôn cẩn thận trước các vụ kiện.
Truyện cười dân gian luôn là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng của người dân Việt Nam, đặc biệt “ Nhưng nó phải bằng hai mày ” sẽ luôn nhắc nhở chúng ta giá trị thực sự của lẽ phải chỉ có một, không nên hối lộ để rồi tiền mất tật mang.
Ulixơ trở về
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Xuân Quỳnh
Lớp: 10A8 Tổ:1
Đề bài: Kể lại đoạn trích Uy-lít-xơ trở về
Bài làm
Những trang văn bất diệt của Hô-me-rơ vẫn còn được lưu truyền cho tới ngày nay mà một trong số đó là sử thi Ô-đi-xê. Khúc ca thứ 23 của bản anh hùng ca này đã khắc họa vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp, với tấm lòng thủy chung nhưng cũng không kém phần thông minh.
Quả là những giông tố lớn trong cuộc hôn nhân của Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp khi Uy-lít-xơ chinh chiến ròng rã 10 năm ở thành Tơ-roa, chàng lại mất thêm 10 năm nữa để thoát khỏi sự giam cầm của nữ thần Ca-líp-xô và rời khỏi xứ sở của vua An-ki-nô-ốt. Trong khi ấy, Pê-nê-lốp cùng người con trai Tê-lê-mác đang phải đối mặt với 108 kẻ quyền quý đến cầu hôn chỉ hòng chiếm đoạt gia sản của chàng. Thật may mắn khi lúc ấy Uy-lít-xơ đã trở về, dưới dạng người hành khất, chàng cùng con trai đã chiến thắng trong cuộc thi chọn chồng mà Pê-nê-lốp tổ chức, đánh đuổi được bọn cầu hôn hung hãn và lũ đầy tớ phản chủ.
Khi nhũ mẫu Ơ-ri-clê rửa chân cho Uy-lít-xơ, già đã nhận ra vết sẹo mà Uy-lít-xơ bị lợn lòi húc ngày trước, nhưng khi già kể lại cho Pê-nê-lốp, nàng lại ngờ vực điều đó, nàng xuống lầu và mặt đối mặt với Uy-lít-xơ, nàng rất đỗi phân vân không biết nên đứng xa hay đứng gần, nàng ngồi lặng thinh trên ghế, có lúc lòng nàng đầy sửng sốt, nhìn chồng mình một cách âu yếm, nhưng khi lại không nhận ra bộ dạng xa lạ của Uy-lít-xơ. Tê-lê-mác lấy làm lạ và hết lời trách móc Pê-nê-lốp, nhưng nàng từ tốn và thận trọng giải thích cho người con trai, về phía Uy-lít-xơ, với một trí tuệ thông minh và phong thái điềm tĩnh, chàng buông lời trấn an con trai, chàng dễ dàng hiểu cho sự thận trọng, khôn ngoan của người vợ cũng như đoán rằng vợ chàng còn muốn thử thách chàng sự thật.
Ngay khi đó, Pê-nê-lốp đã nhanh trí nghĩ đến những dấu hiệu riêng mà chỉ có vợ chồng nàng biết với nhau. Pê-nê-lốp khôn khéo gợi nhắc chồng mình về chiếc giường hạnh phúc của họ năm xưa nay đã bị dời khỏi vị trí cũ, bởi nếu ngồi trước mặt nàng đây là Uy-lít-xơ thì chàng sẽ nhắc tới nó ngay. Quả đúng như thế, một Uy-lít-xơ chung tình và thông minh đã miêu tả chính xác chiếc giường ấy, chiếc giường mà thế gian chỉ một bởi Uy-lít-xơ đã đẽo ra nó từ một cây ôliu lá dài, rồi lấy vàng bạc, ngà nạm dát vào để trang trí sau đó mới dựng nên căn phòng của hai vợ chồng xung quanh cây. Uy-lít-xơ vừa dứt câu cũng là lúc Pê-nê-lốp điêu đứng, mọi nghi ngờ đều đã được hóa giải, nỗi xúc động trào dâng mãnh liệt khiến nàng phải đầm đìa nước mắt là chạy lại ôm hôn âu yếm Uy-lít-xơ. Trong nước mắt, nàng giải thích mọi hành động khó hiểu và lạnh lùng của mình khi trước, Uy-lít-xơ cũng chẳng thể điềm tĩnh trước tình yêu chân thành của Pê-nê-lốp, họ cùng khóc, cùng ôm lấy nhau và hạnh phúc như những ngày mới biết yêu. Uy-lít-xơ có thể khôn ngoan khi gặp lại Pê-nê-lốp, nhưng với Pê-nê-lốp, một người phụ nữ khi mọi nghi ngờ đã được giải tỏa, khi được gặp lại bóng hình mà nàng đã mỏi mòn thương nhớ bấy lâu, không còn gì có thể vui mừng hơn thế!
Với quá nhiều cung bậc cảm xúc và những diễn biến tâm lý phức tạp của một phụ nữ, truyện đã xây dựng được một bố cục hợp lý: một nút thắt căng thẳng đẩy Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ vào tình huống phải đấu trí với nhau và sau đó là cao trào được hóa giải, cảm xúc nghẹn ngào. Qua đó, hình thành nên những tính cách nhân vật tiêu biểu cho con người Hy Lạp thời bấy giờ: phụ nữ cần yêu tha thiết, mãnh liệt, trái tim phụ nữ cẩn trọng, thủy chung, khôn ngoan mà cũng biến hóa khó lường, đàn ông điềm tĩnh, yêu giận rõ ràng, giàu trí tuệ và cảm xúc như Uy-lít-xơ. Tình huống truyện đưa ra cũng đã lay động những trái tim biết yêu thương về bài học phải biết dũng cảm, khôn khéo đương đầu với mọi thử thách dù là trong cuộc sống hay trong tình yêu, từ đó mọi ước vọng của con người sẽ được toại nguyện. Một cốt truyện miêu tả những cung bậc cảm xúc mãnh liệt như thế, với những hình mẫu nhân vật hết sức lý tưởng thì dễ dàng chinh phục những trái tim tuổi hồng đầy mơ mộng như tôi.
Qua những thử thách, gian nan mà Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ phải đối mặt, truyện ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp mà con người cần có, từ đó thể hiện những lối ứng xử có tình có lý mà ta nên học hỏi. Nhưng với tính chất là truyện sử thi, câu chuyện còn cho thấy quá trình con người Hy Lạp chinh phục thiên nhiên, giải quyết các xung đột xã hội và gia đình, sử thi Ô-đi-xê xứng đáng là bộ truyện sử thi đại diện cho hình ảnh đất nước, con người Hy Lạp.
Lớp: 10A8 Tổ:1
Đề bài: Kể lại đoạn trích Uy-lít-xơ trở về
Bài làm
Những trang văn bất diệt của Hô-me-rơ vẫn còn được lưu truyền cho tới ngày nay mà một trong số đó là sử thi Ô-đi-xê. Khúc ca thứ 23 của bản anh hùng ca này đã khắc họa vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp, với tấm lòng thủy chung nhưng cũng không kém phần thông minh.
Quả là những giông tố lớn trong cuộc hôn nhân của Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp khi Uy-lít-xơ chinh chiến ròng rã 10 năm ở thành Tơ-roa, chàng lại mất thêm 10 năm nữa để thoát khỏi sự giam cầm của nữ thần Ca-líp-xô và rời khỏi xứ sở của vua An-ki-nô-ốt. Trong khi ấy, Pê-nê-lốp cùng người con trai Tê-lê-mác đang phải đối mặt với 108 kẻ quyền quý đến cầu hôn chỉ hòng chiếm đoạt gia sản của chàng. Thật may mắn khi lúc ấy Uy-lít-xơ đã trở về, dưới dạng người hành khất, chàng cùng con trai đã chiến thắng trong cuộc thi chọn chồng mà Pê-nê-lốp tổ chức, đánh đuổi được bọn cầu hôn hung hãn và lũ đầy tớ phản chủ.
Khi nhũ mẫu Ơ-ri-clê rửa chân cho Uy-lít-xơ, già đã nhận ra vết sẹo mà Uy-lít-xơ bị lợn lòi húc ngày trước, nhưng khi già kể lại cho Pê-nê-lốp, nàng lại ngờ vực điều đó, nàng xuống lầu và mặt đối mặt với Uy-lít-xơ, nàng rất đỗi phân vân không biết nên đứng xa hay đứng gần, nàng ngồi lặng thinh trên ghế, có lúc lòng nàng đầy sửng sốt, nhìn chồng mình một cách âu yếm, nhưng khi lại không nhận ra bộ dạng xa lạ của Uy-lít-xơ. Tê-lê-mác lấy làm lạ và hết lời trách móc Pê-nê-lốp, nhưng nàng từ tốn và thận trọng giải thích cho người con trai, về phía Uy-lít-xơ, với một trí tuệ thông minh và phong thái điềm tĩnh, chàng buông lời trấn an con trai, chàng dễ dàng hiểu cho sự thận trọng, khôn ngoan của người vợ cũng như đoán rằng vợ chàng còn muốn thử thách chàng sự thật.
Ngay khi đó, Pê-nê-lốp đã nhanh trí nghĩ đến những dấu hiệu riêng mà chỉ có vợ chồng nàng biết với nhau. Pê-nê-lốp khôn khéo gợi nhắc chồng mình về chiếc giường hạnh phúc của họ năm xưa nay đã bị dời khỏi vị trí cũ, bởi nếu ngồi trước mặt nàng đây là Uy-lít-xơ thì chàng sẽ nhắc tới nó ngay. Quả đúng như thế, một Uy-lít-xơ chung tình và thông minh đã miêu tả chính xác chiếc giường ấy, chiếc giường mà thế gian chỉ một bởi Uy-lít-xơ đã đẽo ra nó từ một cây ôliu lá dài, rồi lấy vàng bạc, ngà nạm dát vào để trang trí sau đó mới dựng nên căn phòng của hai vợ chồng xung quanh cây. Uy-lít-xơ vừa dứt câu cũng là lúc Pê-nê-lốp điêu đứng, mọi nghi ngờ đều đã được hóa giải, nỗi xúc động trào dâng mãnh liệt khiến nàng phải đầm đìa nước mắt là chạy lại ôm hôn âu yếm Uy-lít-xơ. Trong nước mắt, nàng giải thích mọi hành động khó hiểu và lạnh lùng của mình khi trước, Uy-lít-xơ cũng chẳng thể điềm tĩnh trước tình yêu chân thành của Pê-nê-lốp, họ cùng khóc, cùng ôm lấy nhau và hạnh phúc như những ngày mới biết yêu. Uy-lít-xơ có thể khôn ngoan khi gặp lại Pê-nê-lốp, nhưng với Pê-nê-lốp, một người phụ nữ khi mọi nghi ngờ đã được giải tỏa, khi được gặp lại bóng hình mà nàng đã mỏi mòn thương nhớ bấy lâu, không còn gì có thể vui mừng hơn thế!
Với quá nhiều cung bậc cảm xúc và những diễn biến tâm lý phức tạp của một phụ nữ, truyện đã xây dựng được một bố cục hợp lý: một nút thắt căng thẳng đẩy Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ vào tình huống phải đấu trí với nhau và sau đó là cao trào được hóa giải, cảm xúc nghẹn ngào. Qua đó, hình thành nên những tính cách nhân vật tiêu biểu cho con người Hy Lạp thời bấy giờ: phụ nữ cần yêu tha thiết, mãnh liệt, trái tim phụ nữ cẩn trọng, thủy chung, khôn ngoan mà cũng biến hóa khó lường, đàn ông điềm tĩnh, yêu giận rõ ràng, giàu trí tuệ và cảm xúc như Uy-lít-xơ. Tình huống truyện đưa ra cũng đã lay động những trái tim biết yêu thương về bài học phải biết dũng cảm, khôn khéo đương đầu với mọi thử thách dù là trong cuộc sống hay trong tình yêu, từ đó mọi ước vọng của con người sẽ được toại nguyện. Một cốt truyện miêu tả những cung bậc cảm xúc mãnh liệt như thế, với những hình mẫu nhân vật hết sức lý tưởng thì dễ dàng chinh phục những trái tim tuổi hồng đầy mơ mộng như tôi.
Qua những thử thách, gian nan mà Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ phải đối mặt, truyện ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp mà con người cần có, từ đó thể hiện những lối ứng xử có tình có lý mà ta nên học hỏi. Nhưng với tính chất là truyện sử thi, câu chuyện còn cho thấy quá trình con người Hy Lạp chinh phục thiên nhiên, giải quyết các xung đột xã hội và gia đình, sử thi Ô-đi-xê xứng đáng là bộ truyện sử thi đại diện cho hình ảnh đất nước, con người Hy Lạp.
Sử thi Ramayana
Đề : Kể lại truyện Ramayana
Nếu như những tác phẩm văn học Việt Nam đem lại những cảm xúc những tình cảm quê hương dân tộc thì các tác phẩm văn học nước ngoài lại cho ta một trải nghiệm khác biệt với hình tượng người anh hùng hay những truyền thống của họ. “Ramayana” cũng nằm trong số ấy.
“Ramayana” là một sử thi cổ đại viết dưới dạng trường ca tiếng Phạn và là một phần quan trọng của bộ kinh Ấn Độ giáo . Đây là bộ sử thi bằng tiếng Phạn nổi tiếng thứ hai của Ấn Độ cổ đại. Sử thi “Ramayana: đã nêu lên những chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử trưởng Rama, ca ngợi mối tình chung thuỷ của nàng Xita, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội người Arian. Tác phẩm bắt nguồn từ truyền thuyết về hoàng tử Rama, được lưu truyền trong dân gian mấy ngàn năm về trước, vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và đã được Vanmiki- một đạo sĩ Bà Lamôn đã ghi lại bằng văn vần. Sử thi Ramayana có độ dài 24.000 câu đôi chia ra thành 7 khúc ca. Nó có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới ca múa, kiến trúc, hội hoạ... trong việc khơi ngợi đề tài và nguồn cảm hứng.
Câu truyện bắt đầu kể từ nhà vua Đa-xa-ra-tha đã trở nên già yếu và muồn truyền ngôi. Khi có ông có bốn người con trai do bà vợ sinh ra và Rama – người con đầu là có tài và đức hơn cả. Khi Đa-xa-ra-tha muốn truyền ngôi báu cho Ra-ma, thì do lòng đố kị, thứ phi Ka-kê-i nhắc lại một ân huệ cũ, buộc nhà vua đày ải Ra-ma vào rừng 14 năm, trao vương quốc cho con trai bà là Bra-ra-ta, Ra-ma vâng lệnh .Vợ chàng, Xi-ta, cùng người em trai thân thiết nhất của chàng,Lắc-ma-na, tình nguyện theo Ra-ma chịu lưu đày. Khi thời hạn lưu đày sắp hết thì xảy ra một tai biến lớn. Quỷ Ra-va-na đã dùng mưu bắt cóc Xi-ta, cuốn nàng trong vạt áo, bay về đảo Lan-ka. Mất Xi-ta, Ra-ma đau buồn khôn xiết .Trên đường đi tìm Xi-ta, Ra-ma gặp và gíup đỡ vua khỉ Xu-gri-va chống lại người anh trai bất công, giành lại vợ và vương quốc. Do đó chàng được vua khỉ Xu-gri-va, tướng khỉ Ha-nu-man cùng đòan quân khỉ giúp vượt biển, tấn công đảo Lan-ka. Sau cùng, Ra-ma hạ thủ Ra-va-na trong giao tranh, giải cứu Xi-ta. Nhưng sau chiến thắng vẻ vang đó, Rama nghi ngờ tiết hạnh của Xi-ta, nổi cơn ghen dữ dội, không muốn nhận lại nàng làm vợ. Để Rama tin ở lòng chung thủy của mình, Xi-ta đã bước vào lửa. Thần lửa A-nhi biết được nàng trong sạch, đã cứu nàng. Thấy vậy Rama vô cùng sung sướng, giang tay đón nàng. Hai người đưa nhau trở về kinh đô trong cảnh chào đón nồng nhiệt của dân chúng.
Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của sử thi yamarana thật đặc sắc. Tác phẩm đã khắc họa được những tính cách tuyệt vời của hai nhân vật chính. Rama là một con người tôn trọng danh dự, hi sinh cả tình yêu vì muốn bảo vệ danh dự của dòng tộc. Về phía Xi-ta , nàng cũng đã chứng minh và khẳng định được tấm lòng thủy chung của mình bằng cách hi sinh cả tình yêu và thân mình. Cả hai đã đều hi sinh tình yêu để bảo vệ danh dự và nhân phẩm.
Ramayana ngợi ca chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử Rama, ca ngợi mối tình chung thuỷ của nàng Xita, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội người Arian. Tuy là một tác phẩm ca ngợi đẳng cấp quý tộc vũ sĩ nhưng đã khắc họa được những gương mặt có tâm hồn trong sáng. Rama là nhân vật lí tưởng kiểu mẫu của đạo Hinđu, của đẳng cấp vương công quý tộc đồng thời là khát vọng của nhân dân về một vị minh quân, một anh hùng tài ba, đức độ, đem lại hạnh phúc cho xã hội. Xi-ta thánh thiện, là mẫu người phụ nữ Ấn Độ cổ đại, một người vợ tiết hạnh, một người con gái nhân hậu, quả quyết, hi sinh quên mình. Tướng khỉ Hanuman có trái tim nóng bỏng nhiệt tình, là hoá thân của lực lượng quần chúng nhân dân làm hậu thuẫn cho những anh hùng chiến đấu cho tự do và công lý, giải phóng bảo vệ đất nước.. Tác phẩm cũng đã nêu bật được khát vọng chiến thắng cái ác, đem lại nguồn an ủi cho quần chúng nhân dân bị áp bức, do đó được nhân dân rất ưa chuộng. Vì thế, những câu chuyện và những nhân vật trong Ramayana đã được nhiều văn nghệ sĩ khắc họa trong thơ ca và trong các công trình mỹ thuật - điêu khắc ở Ấn Độ và các nước Đông Nam Á.Đặc điểm nổi bật khiến Ramayana sống mãi trong lòng người đọc là sức gợi cảm của nó, với sự kết hợp của yếu tố tưởng tượng kì ảo và việc phản ánh hiện thực khách quan, nét hoang đường kì ảo và việc miêu tả tính cách con người trần tục, những cảnh oai hùng và những cảnh bi tráng.Ramayana đã song hành cùng lịch sử dân tộc Ấn Độ dẫu qua nhiều sự gọt giũa của các thi sĩ vô danh, qua nhiều lời kể của các nghệ nhân dân gian, song vẫn là tiếng ca bất hủ về lòng hướng thiện, tư tưởng yêu hòa bình, đề cao sự công bình bác ái; với những triết lí mang tầm nhân loại có giá trị cho muôn đời: lẽ hài hòa, bổn phận, khát vọng, đúng như Vanmiki đã nói: “chừng nào sông chưa cạn, đá chưa mòn thì anh hùng ca Ramayana còn làm say mê lòng người và giải thoát họ ra khỏi vòng tội lỗi”.
Như vậy, qua sử thi Ramayana, ta đã hiểu được phần nào phẩm chất con người Ấn Độ trong xã hội cổ xưa. Tình yêu của họ thật thiêng liêng và cao quý biết chừng nào.
Nếu như những tác phẩm văn học Việt Nam đem lại những cảm xúc những tình cảm quê hương dân tộc thì các tác phẩm văn học nước ngoài lại cho ta một trải nghiệm khác biệt với hình tượng người anh hùng hay những truyền thống của họ. “Ramayana” cũng nằm trong số ấy.
“Ramayana” là một sử thi cổ đại viết dưới dạng trường ca tiếng Phạn và là một phần quan trọng của bộ kinh Ấn Độ giáo . Đây là bộ sử thi bằng tiếng Phạn nổi tiếng thứ hai của Ấn Độ cổ đại. Sử thi “Ramayana: đã nêu lên những chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử trưởng Rama, ca ngợi mối tình chung thuỷ của nàng Xita, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội người Arian. Tác phẩm bắt nguồn từ truyền thuyết về hoàng tử Rama, được lưu truyền trong dân gian mấy ngàn năm về trước, vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và đã được Vanmiki- một đạo sĩ Bà Lamôn đã ghi lại bằng văn vần. Sử thi Ramayana có độ dài 24.000 câu đôi chia ra thành 7 khúc ca. Nó có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới ca múa, kiến trúc, hội hoạ... trong việc khơi ngợi đề tài và nguồn cảm hứng.
Câu truyện bắt đầu kể từ nhà vua Đa-xa-ra-tha đã trở nên già yếu và muồn truyền ngôi. Khi có ông có bốn người con trai do bà vợ sinh ra và Rama – người con đầu là có tài và đức hơn cả. Khi Đa-xa-ra-tha muốn truyền ngôi báu cho Ra-ma, thì do lòng đố kị, thứ phi Ka-kê-i nhắc lại một ân huệ cũ, buộc nhà vua đày ải Ra-ma vào rừng 14 năm, trao vương quốc cho con trai bà là Bra-ra-ta, Ra-ma vâng lệnh .Vợ chàng, Xi-ta, cùng người em trai thân thiết nhất của chàng,Lắc-ma-na, tình nguyện theo Ra-ma chịu lưu đày. Khi thời hạn lưu đày sắp hết thì xảy ra một tai biến lớn. Quỷ Ra-va-na đã dùng mưu bắt cóc Xi-ta, cuốn nàng trong vạt áo, bay về đảo Lan-ka. Mất Xi-ta, Ra-ma đau buồn khôn xiết .Trên đường đi tìm Xi-ta, Ra-ma gặp và gíup đỡ vua khỉ Xu-gri-va chống lại người anh trai bất công, giành lại vợ và vương quốc. Do đó chàng được vua khỉ Xu-gri-va, tướng khỉ Ha-nu-man cùng đòan quân khỉ giúp vượt biển, tấn công đảo Lan-ka. Sau cùng, Ra-ma hạ thủ Ra-va-na trong giao tranh, giải cứu Xi-ta. Nhưng sau chiến thắng vẻ vang đó, Rama nghi ngờ tiết hạnh của Xi-ta, nổi cơn ghen dữ dội, không muốn nhận lại nàng làm vợ. Để Rama tin ở lòng chung thủy của mình, Xi-ta đã bước vào lửa. Thần lửa A-nhi biết được nàng trong sạch, đã cứu nàng. Thấy vậy Rama vô cùng sung sướng, giang tay đón nàng. Hai người đưa nhau trở về kinh đô trong cảnh chào đón nồng nhiệt của dân chúng.
Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của sử thi yamarana thật đặc sắc. Tác phẩm đã khắc họa được những tính cách tuyệt vời của hai nhân vật chính. Rama là một con người tôn trọng danh dự, hi sinh cả tình yêu vì muốn bảo vệ danh dự của dòng tộc. Về phía Xi-ta , nàng cũng đã chứng minh và khẳng định được tấm lòng thủy chung của mình bằng cách hi sinh cả tình yêu và thân mình. Cả hai đã đều hi sinh tình yêu để bảo vệ danh dự và nhân phẩm.
Ramayana ngợi ca chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử Rama, ca ngợi mối tình chung thuỷ của nàng Xita, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội người Arian. Tuy là một tác phẩm ca ngợi đẳng cấp quý tộc vũ sĩ nhưng đã khắc họa được những gương mặt có tâm hồn trong sáng. Rama là nhân vật lí tưởng kiểu mẫu của đạo Hinđu, của đẳng cấp vương công quý tộc đồng thời là khát vọng của nhân dân về một vị minh quân, một anh hùng tài ba, đức độ, đem lại hạnh phúc cho xã hội. Xi-ta thánh thiện, là mẫu người phụ nữ Ấn Độ cổ đại, một người vợ tiết hạnh, một người con gái nhân hậu, quả quyết, hi sinh quên mình. Tướng khỉ Hanuman có trái tim nóng bỏng nhiệt tình, là hoá thân của lực lượng quần chúng nhân dân làm hậu thuẫn cho những anh hùng chiến đấu cho tự do và công lý, giải phóng bảo vệ đất nước.. Tác phẩm cũng đã nêu bật được khát vọng chiến thắng cái ác, đem lại nguồn an ủi cho quần chúng nhân dân bị áp bức, do đó được nhân dân rất ưa chuộng. Vì thế, những câu chuyện và những nhân vật trong Ramayana đã được nhiều văn nghệ sĩ khắc họa trong thơ ca và trong các công trình mỹ thuật - điêu khắc ở Ấn Độ và các nước Đông Nam Á.Đặc điểm nổi bật khiến Ramayana sống mãi trong lòng người đọc là sức gợi cảm của nó, với sự kết hợp của yếu tố tưởng tượng kì ảo và việc phản ánh hiện thực khách quan, nét hoang đường kì ảo và việc miêu tả tính cách con người trần tục, những cảnh oai hùng và những cảnh bi tráng.Ramayana đã song hành cùng lịch sử dân tộc Ấn Độ dẫu qua nhiều sự gọt giũa của các thi sĩ vô danh, qua nhiều lời kể của các nghệ nhân dân gian, song vẫn là tiếng ca bất hủ về lòng hướng thiện, tư tưởng yêu hòa bình, đề cao sự công bình bác ái; với những triết lí mang tầm nhân loại có giá trị cho muôn đời: lẽ hài hòa, bổn phận, khát vọng, đúng như Vanmiki đã nói: “chừng nào sông chưa cạn, đá chưa mòn thì anh hùng ca Ramayana còn làm say mê lòng người và giải thoát họ ra khỏi vòng tội lỗi”.
Như vậy, qua sử thi Ramayana, ta đã hiểu được phần nào phẩm chất con người Ấn Độ trong xã hội cổ xưa. Tình yêu của họ thật thiêng liêng và cao quý biết chừng nào.
Một chuyện tình kết thúc có hậu
Có lẽ ta đãvốn rất quen thuộc với nhiều tác phẩm về tình yêu của dân tộc Kinh. Những câu chuyện đuợc kết thúc rất có hậu, song cũng có những kết thúc đau lòng người đọc và dẫn tới nhiều suy nghĩ , nhưng chúng ta ít gần gũi với chuyện của dân tộc Thái. Và bài “ Tiễn dặn ngưòi yêu” là tác phẩm tiêu biểu cho dân tộc này. Đươc kể dưới dạng truyện thơ với 1846 câu. Viết về tình yêu đôi lứa của hai người trẻ tuổi. Họ đến với nhau nhưng lại bị ngăn cản của gia đình cô gái. Từ đó câu chuyện đuợc tiếp diễn với chi tiết lôi cuốn bạn đọc.
Từ thuở nhỏ, chàng trai và cô gái đã trở thành bạn thân. Hai người có bao kỉ niệm đẹp êm đềm và từng thề nguyện “ Sông Đà cạn bằng chiếc đũa hãy quên “.Anh nhờ người mối lái, lo lễ vật đến xin ở rể, nhưng bố mẹ cô gái chê anh nghèo, không nhận lời. Cô bị bố mẹ ép gả cho một người con trai giàu có. Cô kêu van chú thím anh chị em trong nhà, kêu van đến cả chim cu, nhưng ai cũng không giúp được, "dẫu van xin bố mẹ cũng khơng buơng, khơng tha".
Người con trai nhà giàu đến ở rể. Người yêu của cô đau khổ, phẫn chí bỏ nhà đi buôn, hy vọng trở nên giàu có, sẽ trở về giành lại người yêu. Cô gái ở lại với một hy vọng sẽ có ngày nên vợ nên chồng. Nhưng trời cao chưa hiểu được lòng chàng, cứ liên tục gián nỗi đau lên mối tình này. Kì hạn ở rễ đã tới ngày hết hạn. Chàng trai hạnh phúc trở về trong sự giàu sang để thực hiện lời hứa xưa. Thật không may, cô gái đã bị rơi vào tay của kẻ khác. Cng lc ấy, người yêu trở về, anh tiễn chị đi. Đôi bạn tình bịn rịn, khơng muốn rời nhau. Anh tiễn người tình trước lúc chia tay: " Không lấy được nhau thời trẻ" thì hy lấy nhau "khi gố bụa về gi".
Mấy năm sau, chị bị nhà chồng đuổi về nhà cha mẹ đẻ vì theo họ, chị không thể nào trở thành "vợ hiền, dâu thảo". Rồi cha mẹ chị bán chị cho một nhà quan. Chị đau khổ như điên như dại. Gia đình nh quan đưa chị ra chợ bán với giá bán một cuộn dong. Người mua chị lại chính là người yêu cũ, nay đ trở nn giu cĩ v đ có vợ. Chị đ qu thay đổi, anh chẳng nhận ra chị được nữa. Chị đem đàn môi ra gảy. Anh chợt nhận ra chị qua tiếng đàn môi no nng. Anh thu xếp cho người vợ trước trở về nhà cha mẹ mình rồi cưới chị làm vợ như lời nguyền ngày trước. Chng liền lập tức chia đôi tài sản của mình để tiễn vợ về nhà, họ cưới nhau và trọn lời thể ước khi xưa : “Không lấy được nhau khi mùa hạ, ta sẽ lấy nhau mùa đông”. Ta có thể thấy được sự chung tình giữa cặp đôi này. Cho dù xa cách, cho dù trải qua biết bao nhiêu chuyện đau khổ, nhưng học vẫn vượt lên hết tất cả và đến với nhau.
Chuyện tình giữa đôi trai gái này là một điển hình cho sức mạnh của tình yêu. Họ phải vượt qua thử thách để đến được với nhau. Với cách sử dụng hình ảnh so sánh, điệp từ, điệp ngữ tạo nên nội dung câu chuyện. Nội dung còn phản ánh tục lệ ép duyên , lên án lễ giáo phong kiến về hôn nhân đã chà đạp lên tình yêu, hạnh phúc của người phụ nữ Thái. Đoạn thơ còn có giá trị nhân đạo, thể hiện sự đồng cảm đối với nỗi đau của người con gái bị ép duyên.
Qua bài thơ, ta cảm phục những con người có có ý chí thực hiện ước muốn dù khó khăn đến đâu. Từ đó, ta học từ họ sự kiên trì, biết phấn đấu, vươn lên trên số phận, không để lùi bứơc.
--------
10A8-43-VTS
Từ thuở nhỏ, chàng trai và cô gái đã trở thành bạn thân. Hai người có bao kỉ niệm đẹp êm đềm và từng thề nguyện “ Sông Đà cạn bằng chiếc đũa hãy quên “.Anh nhờ người mối lái, lo lễ vật đến xin ở rể, nhưng bố mẹ cô gái chê anh nghèo, không nhận lời. Cô bị bố mẹ ép gả cho một người con trai giàu có. Cô kêu van chú thím anh chị em trong nhà, kêu van đến cả chim cu, nhưng ai cũng không giúp được, "dẫu van xin bố mẹ cũng khơng buơng, khơng tha".
Người con trai nhà giàu đến ở rể. Người yêu của cô đau khổ, phẫn chí bỏ nhà đi buôn, hy vọng trở nên giàu có, sẽ trở về giành lại người yêu. Cô gái ở lại với một hy vọng sẽ có ngày nên vợ nên chồng. Nhưng trời cao chưa hiểu được lòng chàng, cứ liên tục gián nỗi đau lên mối tình này. Kì hạn ở rễ đã tới ngày hết hạn. Chàng trai hạnh phúc trở về trong sự giàu sang để thực hiện lời hứa xưa. Thật không may, cô gái đã bị rơi vào tay của kẻ khác. Cng lc ấy, người yêu trở về, anh tiễn chị đi. Đôi bạn tình bịn rịn, khơng muốn rời nhau. Anh tiễn người tình trước lúc chia tay: " Không lấy được nhau thời trẻ" thì hy lấy nhau "khi gố bụa về gi".
Mấy năm sau, chị bị nhà chồng đuổi về nhà cha mẹ đẻ vì theo họ, chị không thể nào trở thành "vợ hiền, dâu thảo". Rồi cha mẹ chị bán chị cho một nhà quan. Chị đau khổ như điên như dại. Gia đình nh quan đưa chị ra chợ bán với giá bán một cuộn dong. Người mua chị lại chính là người yêu cũ, nay đ trở nn giu cĩ v đ có vợ. Chị đ qu thay đổi, anh chẳng nhận ra chị được nữa. Chị đem đàn môi ra gảy. Anh chợt nhận ra chị qua tiếng đàn môi no nng. Anh thu xếp cho người vợ trước trở về nhà cha mẹ mình rồi cưới chị làm vợ như lời nguyền ngày trước. Chng liền lập tức chia đôi tài sản của mình để tiễn vợ về nhà, họ cưới nhau và trọn lời thể ước khi xưa : “Không lấy được nhau khi mùa hạ, ta sẽ lấy nhau mùa đông”. Ta có thể thấy được sự chung tình giữa cặp đôi này. Cho dù xa cách, cho dù trải qua biết bao nhiêu chuyện đau khổ, nhưng học vẫn vượt lên hết tất cả và đến với nhau.
Chuyện tình giữa đôi trai gái này là một điển hình cho sức mạnh của tình yêu. Họ phải vượt qua thử thách để đến được với nhau. Với cách sử dụng hình ảnh so sánh, điệp từ, điệp ngữ tạo nên nội dung câu chuyện. Nội dung còn phản ánh tục lệ ép duyên , lên án lễ giáo phong kiến về hôn nhân đã chà đạp lên tình yêu, hạnh phúc của người phụ nữ Thái. Đoạn thơ còn có giá trị nhân đạo, thể hiện sự đồng cảm đối với nỗi đau của người con gái bị ép duyên.
Qua bài thơ, ta cảm phục những con người có có ý chí thực hiện ước muốn dù khó khăn đến đâu. Từ đó, ta học từ họ sự kiên trì, biết phấn đấu, vươn lên trên số phận, không để lùi bứơc.
--------
10A8-43-VTS
28 thg 10, 2010
Kể về Sử thi Đamsan
TÊN : LÂM HÙYNH NHƯ
LỚP: 10A8 STT: 24
NĂM HỌC: 2010-2011
Kể lại sử thi Đămsan
Đăm Săn là một trong những tác phẩm sử thi tiêu biểu nhất của đồng bào Ê- đê Tây Nguyên và cũng là một trong những tác phẩm hay nhất, hào hùng nhất của thể loại sử thi anh hùng được lưu truyền đến ngày nay. Có lẽ người để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng chúng ta chính là Đăm Săn, một tù trưởng anh hùng, một người chiến binh dũng cảm, Bằng những biện pháp nghệ thuật đặc sắc thường thấy trong sử thi, tác phẩm đã cho ta thấy một bức chân dung khá trọn vẹn về người anh hùng sử thi Đăm Săn với sức mạnh, tài năng và vẻ đẹp phi thường dũng sĩ tiêu biểu chi tinh thần, ý chí của cả cộng đồng.
Đămsan theo tục nối dậy đã về làm chồng của hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bị.Từ đó Đămsan trở nên là một tù trưởng giàu có và uy danh lừng lẫy.Các tù trưởng Kên Kên, tù trưởng Sắt thấy thế nên ghen tị vì vậy thừa lúc Đăm Săn cùng các nô lệ lên rẫy, ra sông làm lụng đã kéo người tới cướp phá buôn của chàng và bắt Hơ Nhị về làm vợ.Đămsan tổ chức đánh trả , chàng tiến đánh kẻ thù một cách quang minh chính đại với tư thế đường hoàng, sự dũng cảm và bản lĩnh vô song. Bước vào lãnh địa của Mtao Mxây, chàng dõng dạc, đường hoàng tới tận chân cầu thang nhà kẻ thù mà khiêu chiến: “Ơ diêng! Ta thách nhà ngươi xuống đây đọ đao với ta đấy”.Đămsan luôn chủ động ,tiến đánh mạnh mẽ còn kẻ thù thì luôn ở thế bị động, khiếp sợ.Chàng tiến đánh hai lần và cả hai lần đều giành chiến thắng, cứu dc vợ và tịch thu của cải của kẻ thù khiến oai danh của chàng càng lừng lẫy, bộ tộc càng giàu có, đông đúc.
Một lần tình cờ gặp cây sơmúc, Đămsan đã ra sức chặt đổ và ngay sau đó cả 2 vợ đều chết.Đămsan phải lặn lội tìm lối lên Trời để xin thuốc thần cứu vợ sống lại.Chẳng bao lâu, Đămsan lại tìm cách lên Trời để xin hỏi cưới nữ thần Mặt Trời nhưng lại bị từ chối.Tức giận, Đămsan đã bỏ về và cả người lẫn ngựa đều bị chết ngập ở rừng Sáp Đen, nhão như bùn nước.Hồn chàng biến thành con ruồi bay vào miệng chị gái của mình là HơÂng khiến nàng có mang và sinh ra đứa con trai.Đó là Đămsan cháu,lớn lên lại đi tiếp con đường của người cậu anh hùng.
Sử thi Đăm Săn được xem như là một trong những tác phẩm nổi tiếng của dân tộc, tiêu biểu cho sức mạnh chính nghĩa và khát vọng của cộng đồng. Thông qua hình tượng người anh hùng Đăm Săn, người nhân thể hiện ước vọng của mình trong công cuộc chinh phục thiên nhiên. Điều đó được thể hiện qua hành động Đăm Săn hỏi cưới nữ thần Mặt Trời, vác rìu lên trời. Những chiến thắng và sự giàu có của chàng tượng trưng cho ước vọng ấm no hạnh phúc và trừng trị cái ác của dân tộc Ê-đê. Đồng thời hành động chặt đổ cây sơ-múc bên nhà vợ thể hiện ước muốn thoát khỏi tục nối dây để có thể tự do yêu nhau. Tác phẩm đã đem lại cho ta những cách nhìn độc đáo về người anh hùng Đam Săn trong chiến công bảo vệ buôn làng, đem lại bình yên cho bộ tộc. Lời kể chuyện hấp dẫn cùng ngôn ngữ miêu tả khoa trương tạo được dấu ấn đặc sắc, chứa đựng những giá trị nhân văn đặc trưng của sử thi. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, cụ thể, chi tiết được chắt lọc từ hình ảnh của cuộc sống, thiên nhiên gắn liền với mảnh đất và con người Tây Nguyên phóng khóang, kì vĩ.Tác phẩm đã sử dụng hiệu quả các biện pháp nghệ thuật tăng tiến, so sánh, nói quá, liệt kê, lối nói đòn bẫy- dùng Mtao Mxây để tôn vinh vẻ đẹp của Đămsan, tạo nên khí thế sôi nổi , hào hùng, ca ngợi chiến công của người anh hùng.Tác phẩm còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc,phải luôn gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, ấm áp, luôn tôn trọng bản thân và cả những người xung quanh.
Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp người anh hùng Đămsan, một người trọng danh dự, gắn bó hạnh phúc gia đình với hạnh phúc chung của cộng đồng, sống tha thiết với cuộc sống bình yên, thịnh vượng của cả cộng đồng.Đó là người anh hùng mang tầm vóc sử thi kì vĩ và lớn lao.
LỚP: 10A8 STT: 24
NĂM HỌC: 2010-2011
Kể lại sử thi Đămsan
Đăm Săn là một trong những tác phẩm sử thi tiêu biểu nhất của đồng bào Ê- đê Tây Nguyên và cũng là một trong những tác phẩm hay nhất, hào hùng nhất của thể loại sử thi anh hùng được lưu truyền đến ngày nay. Có lẽ người để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng chúng ta chính là Đăm Săn, một tù trưởng anh hùng, một người chiến binh dũng cảm, Bằng những biện pháp nghệ thuật đặc sắc thường thấy trong sử thi, tác phẩm đã cho ta thấy một bức chân dung khá trọn vẹn về người anh hùng sử thi Đăm Săn với sức mạnh, tài năng và vẻ đẹp phi thường dũng sĩ tiêu biểu chi tinh thần, ý chí của cả cộng đồng.
Đămsan theo tục nối dậy đã về làm chồng của hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bị.Từ đó Đămsan trở nên là một tù trưởng giàu có và uy danh lừng lẫy.Các tù trưởng Kên Kên, tù trưởng Sắt thấy thế nên ghen tị vì vậy thừa lúc Đăm Săn cùng các nô lệ lên rẫy, ra sông làm lụng đã kéo người tới cướp phá buôn của chàng và bắt Hơ Nhị về làm vợ.Đămsan tổ chức đánh trả , chàng tiến đánh kẻ thù một cách quang minh chính đại với tư thế đường hoàng, sự dũng cảm và bản lĩnh vô song. Bước vào lãnh địa của Mtao Mxây, chàng dõng dạc, đường hoàng tới tận chân cầu thang nhà kẻ thù mà khiêu chiến: “Ơ diêng! Ta thách nhà ngươi xuống đây đọ đao với ta đấy”.Đămsan luôn chủ động ,tiến đánh mạnh mẽ còn kẻ thù thì luôn ở thế bị động, khiếp sợ.Chàng tiến đánh hai lần và cả hai lần đều giành chiến thắng, cứu dc vợ và tịch thu của cải của kẻ thù khiến oai danh của chàng càng lừng lẫy, bộ tộc càng giàu có, đông đúc.
Một lần tình cờ gặp cây sơmúc, Đămsan đã ra sức chặt đổ và ngay sau đó cả 2 vợ đều chết.Đămsan phải lặn lội tìm lối lên Trời để xin thuốc thần cứu vợ sống lại.Chẳng bao lâu, Đămsan lại tìm cách lên Trời để xin hỏi cưới nữ thần Mặt Trời nhưng lại bị từ chối.Tức giận, Đămsan đã bỏ về và cả người lẫn ngựa đều bị chết ngập ở rừng Sáp Đen, nhão như bùn nước.Hồn chàng biến thành con ruồi bay vào miệng chị gái của mình là HơÂng khiến nàng có mang và sinh ra đứa con trai.Đó là Đămsan cháu,lớn lên lại đi tiếp con đường của người cậu anh hùng.
Sử thi Đăm Săn được xem như là một trong những tác phẩm nổi tiếng của dân tộc, tiêu biểu cho sức mạnh chính nghĩa và khát vọng của cộng đồng. Thông qua hình tượng người anh hùng Đăm Săn, người nhân thể hiện ước vọng của mình trong công cuộc chinh phục thiên nhiên. Điều đó được thể hiện qua hành động Đăm Săn hỏi cưới nữ thần Mặt Trời, vác rìu lên trời. Những chiến thắng và sự giàu có của chàng tượng trưng cho ước vọng ấm no hạnh phúc và trừng trị cái ác của dân tộc Ê-đê. Đồng thời hành động chặt đổ cây sơ-múc bên nhà vợ thể hiện ước muốn thoát khỏi tục nối dây để có thể tự do yêu nhau. Tác phẩm đã đem lại cho ta những cách nhìn độc đáo về người anh hùng Đam Săn trong chiến công bảo vệ buôn làng, đem lại bình yên cho bộ tộc. Lời kể chuyện hấp dẫn cùng ngôn ngữ miêu tả khoa trương tạo được dấu ấn đặc sắc, chứa đựng những giá trị nhân văn đặc trưng của sử thi. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, cụ thể, chi tiết được chắt lọc từ hình ảnh của cuộc sống, thiên nhiên gắn liền với mảnh đất và con người Tây Nguyên phóng khóang, kì vĩ.Tác phẩm đã sử dụng hiệu quả các biện pháp nghệ thuật tăng tiến, so sánh, nói quá, liệt kê, lối nói đòn bẫy- dùng Mtao Mxây để tôn vinh vẻ đẹp của Đămsan, tạo nên khí thế sôi nổi , hào hùng, ca ngợi chiến công của người anh hùng.Tác phẩm còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc,phải luôn gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, ấm áp, luôn tôn trọng bản thân và cả những người xung quanh.
Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp người anh hùng Đămsan, một người trọng danh dự, gắn bó hạnh phúc gia đình với hạnh phúc chung của cộng đồng, sống tha thiết với cuộc sống bình yên, thịnh vượng của cả cộng đồng.Đó là người anh hùng mang tầm vóc sử thi kì vĩ và lớn lao.
26 thg 10, 2010
Kể truyện"ADV và MC-TT"
Lớp :10a8 STT: 15
Tên: Ngô Thị An Khương
Đề: kể về “An Dương Vương và Mị Châu _ Trọng Thủy
Bài làm
“Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu
Trái tim lầm lỡ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đổ đắm biển sâu.”
Những dòng thơ trên cũng phần nào cho ta hỉu dc. Nguyên nhân do đâu mà cơ đồ nhà nước Âu Lạc “đắm biển sâu”. Truyền thuyết “ An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” được trích từ “Truyện Rùa Vàng” trong “ Lĩnh Nam chích quái” ra đời vào cuối TK XV . Truyện nhìn chung có 2 bố cục chính : An Dương Vương xây thành và chế tạo nỏ thần ; 2 là nguyên nhân khiến cơ đồ nhà nước Âu Lạc “ đắm biển sâu”.Sau đây ta hãy cùng nghe kể lại câu truyện này.
ADV là người đứng dầu nhà nước Âu Lạc lúc bấy giờ , xây thành dến dâu thỳ lở đất đến đấy ,bèn lập đàn trai giới .Và dc. Thần linh mách bảo : “ sẽ có sứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây thành mới thành công” .Hôm sau , vua ra cửa đông chờ đợi và thấy rủa vàng nổi trên mặt nước xưng là Thanh Giang .Bèn dùng xe bằng vàng rước vào trong thành .Thành xây nửa thàng thỳ xong ,thành rộng hơn ngàn trượng ,xoắn như hình trôn ốc , gọi là thành Cổ Loa hay là Qủy Long Thần ,người đời Đường gọi là Côn Lôn Thành có lẽ rằng nó cao lắm . Xây xong Rùa Vàng ở lại 3 năm rồi lại về biển Đông .nhà vua nói : “ nhờ ơn thầnrùa ma` xây xong dc. Thành .Nay giặc đến lấy j` ma` chống .Rùa vàng bèn tháo vuốt đưa cho vua nói: Dem vật này làm lẫy nỏ , nhằm quân giặc mà bắn thỳ sẽ không lo gì nữa “ rồi trở về biền đông vua sai người tên Cao Lỗ làm nỏ lấy vuốt rùa làm lẫy , đặt tên nỏ là “ Linh quang Kim Quy thần cơ” . Nhờ đó về sau khi Triệu Đà đưa bình sang chiếm phương Nam , thỳ vua đã chiến thắng lớn ,quân xâm lược đã không dám đối chiến ,đành xin hòa. Nhờ sự giúp dỡ của thần rùa là 1 trong những yếu tố thần kì của truyện làm tăng thêm sự hấp đẫn cho câu truyện .Mục dích của những yếu tố thần kì nhắm làm cho thuận lòng dân ,giúp nhà vua đạt dc. Ý nguyện ,phù hợp với lòng dân và ý trời .
Tiếp theo không bao lâu , Triệu Đà cầu hôn MC cho con của mình là TT và vua đã vô tình gà con gái mình cho giặc. Và khi nhận dc. Nhiều tình cảm của MC thỳ TT đã “dỗ MC cho xem nỏ thần” rồi làm giả 1 cái nỏ thần khác thay cho vuốt rùa vàng thật và nói về phương bắc thăm cha và nói : “ tình vợ chồng không thể lãng quên , nghĩa cha mẹ không thể vức bỏ .Ta nay về thăm cha , nếu như lúc 2 nước mất hòa ,Bắc Nam cách biệt , ta tìm lại nàng ,lấy j` làm dấu”đáp : “ thiếp phận nữ nhi ,nếu gặp cảnh biệt li thỳ đau đớn khôn xiết ,Thiếp có gấm lông ngỗng thường mặt trên mình ,đi đến đâu sẽ rắc lông ngỗng ở ngãng ba đường làm dấu , như vậy sẽ có thể cứu dc. nhau”. Nghe đến đây mà MC đã không chút nghi ngờ lời nói của TT . Từ đầu MC đã quá tin chồng đặt nặng chử yêu lên đầu đã lén cho TT coi nỏ thần, tuy nhiên do chung sống lau nên TT cunda94 thương yêu MC thật lòng, nhưng cũng không thể quên dc. mâu thuẫn giữa 2 gia đình nên đành phải làm vậy,nên sau khi chia tay TT đã ăn năng khôn cùng .ADV cũng đã quá chủ quan khi quân Đà đã tiến xát mà vẫn ngồi điềm nhiên dánh cờ ,cười nói: “ Đà không sợ nớ thần sao?”.Lúc ấy vua mới biết mình đã mất nỏ thần ,vua cùng MC đằng sau ngựa chạy về phía Nam .Chỉ do tính chủ quan khinh địch ,do mất cảnh giác với địch. Do còn tình cảm nhiều, TT đã nhận thấy dc. lông ngỗng mà đuổi theo . Đến tới bờ biển , đường cùng không có ,ADV đã kêu cứu Rùa Vàng ,Rùa Vàng nghe thấy và nổi lên trên mặt nước nói: “ Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó!”. Vua liền tuốt kiếm chém MC và khấn: “ nếu có lòng phản nghịch mưu cha thỳ chết làm cát bụi còn nếu không thỳ chết đi sẽ biến thành ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Ở đây trên cướng vị của 1 người lãnh đạo dất nước để phán xét hành động của MC thỳ ADV làm như vậy là đúng .Nhưng đúng trên cương vị là 1 người cha thỳ điều này là cũng khá là tàn nhẫn nhưng ADV đã tuân theo lóng dân mà phải trị . Qua ciệc mất nước ,nhà tan của ADV ta thấy ta cần xừ lí những mối chung riêng cho đúng đắn ,phải luôn đặt trách nhiệm lên đầu. Tiếp đó MC chết máu chảy xuống biển sò ăn phài đều biến thành hạt châu , còn ADV cầm sừng tê 7 tấc ,Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua xuống biển .Điều đó chứng tỏ trong lòng nhân dân ADV luôn sống mãi ,người chỉ đi vào cái chết vĩnh hằng trong sự ngưỡng mộ của nhân dân . Khi đấy quân Đ à mới kéo đến chỉ thấy xác của MC ,TT ôm xác MC về táng ở thành Loa Thành ,xác biến thành ngọc thạch .MC chết TT thương tiết khôn nguôi ,khí tắm nhìn xuống giếng thấy bóng MC ngỡ là nàng lau đầu xuống giếng mà chết .Người sau tìm dc. ngọc ở biển Đống lấy nc’ ở giếng rửa ngọc càng sáng hơn . gọi là ngọc minh châu nghĩa đại cửu và tiểu cữu .
Truyện đã làm say đắm lòng người với những yếu tố thần kì với những yếu tố lịch sử, kết cấu chặt chẽ và đã xuất hiện dc. những nhân vật diển hình cao .Ngoài ra truyện cũng cho ta nhiều bài học sâu sắc về việc nguyên nhân mất nước Âu Lạc và việc giữ nước .
Qua đó nhân dân đã đưa ra những bài học sâu sắc cho những ai đã và đang có ý định xâm chiếm nước Âu Lạc, thỳ cuối cùng cũng nhận chung 1 hậu quà là cuối cùng cũng phải sống trong đau khổ và dày vò trong suốt quãng còn lại. .
Tên: Ngô Thị An Khương
Đề: kể về “An Dương Vương và Mị Châu _ Trọng Thủy
Bài làm
“Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu
Trái tim lầm lỡ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đổ đắm biển sâu.”
Những dòng thơ trên cũng phần nào cho ta hỉu dc. Nguyên nhân do đâu mà cơ đồ nhà nước Âu Lạc “đắm biển sâu”. Truyền thuyết “ An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” được trích từ “Truyện Rùa Vàng” trong “ Lĩnh Nam chích quái” ra đời vào cuối TK XV . Truyện nhìn chung có 2 bố cục chính : An Dương Vương xây thành và chế tạo nỏ thần ; 2 là nguyên nhân khiến cơ đồ nhà nước Âu Lạc “ đắm biển sâu”.Sau đây ta hãy cùng nghe kể lại câu truyện này.
ADV là người đứng dầu nhà nước Âu Lạc lúc bấy giờ , xây thành dến dâu thỳ lở đất đến đấy ,bèn lập đàn trai giới .Và dc. Thần linh mách bảo : “ sẽ có sứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây thành mới thành công” .Hôm sau , vua ra cửa đông chờ đợi và thấy rủa vàng nổi trên mặt nước xưng là Thanh Giang .Bèn dùng xe bằng vàng rước vào trong thành .Thành xây nửa thàng thỳ xong ,thành rộng hơn ngàn trượng ,xoắn như hình trôn ốc , gọi là thành Cổ Loa hay là Qủy Long Thần ,người đời Đường gọi là Côn Lôn Thành có lẽ rằng nó cao lắm . Xây xong Rùa Vàng ở lại 3 năm rồi lại về biển Đông .nhà vua nói : “ nhờ ơn thầnrùa ma` xây xong dc. Thành .Nay giặc đến lấy j` ma` chống .Rùa vàng bèn tháo vuốt đưa cho vua nói: Dem vật này làm lẫy nỏ , nhằm quân giặc mà bắn thỳ sẽ không lo gì nữa “ rồi trở về biền đông vua sai người tên Cao Lỗ làm nỏ lấy vuốt rùa làm lẫy , đặt tên nỏ là “ Linh quang Kim Quy thần cơ” . Nhờ đó về sau khi Triệu Đà đưa bình sang chiếm phương Nam , thỳ vua đã chiến thắng lớn ,quân xâm lược đã không dám đối chiến ,đành xin hòa. Nhờ sự giúp dỡ của thần rùa là 1 trong những yếu tố thần kì của truyện làm tăng thêm sự hấp đẫn cho câu truyện .Mục dích của những yếu tố thần kì nhắm làm cho thuận lòng dân ,giúp nhà vua đạt dc. Ý nguyện ,phù hợp với lòng dân và ý trời .
Tiếp theo không bao lâu , Triệu Đà cầu hôn MC cho con của mình là TT và vua đã vô tình gà con gái mình cho giặc. Và khi nhận dc. Nhiều tình cảm của MC thỳ TT đã “dỗ MC cho xem nỏ thần” rồi làm giả 1 cái nỏ thần khác thay cho vuốt rùa vàng thật và nói về phương bắc thăm cha và nói : “ tình vợ chồng không thể lãng quên , nghĩa cha mẹ không thể vức bỏ .Ta nay về thăm cha , nếu như lúc 2 nước mất hòa ,Bắc Nam cách biệt , ta tìm lại nàng ,lấy j` làm dấu”đáp : “ thiếp phận nữ nhi ,nếu gặp cảnh biệt li thỳ đau đớn khôn xiết ,Thiếp có gấm lông ngỗng thường mặt trên mình ,đi đến đâu sẽ rắc lông ngỗng ở ngãng ba đường làm dấu , như vậy sẽ có thể cứu dc. nhau”. Nghe đến đây mà MC đã không chút nghi ngờ lời nói của TT . Từ đầu MC đã quá tin chồng đặt nặng chử yêu lên đầu đã lén cho TT coi nỏ thần, tuy nhiên do chung sống lau nên TT cunda94 thương yêu MC thật lòng, nhưng cũng không thể quên dc. mâu thuẫn giữa 2 gia đình nên đành phải làm vậy,nên sau khi chia tay TT đã ăn năng khôn cùng .ADV cũng đã quá chủ quan khi quân Đà đã tiến xát mà vẫn ngồi điềm nhiên dánh cờ ,cười nói: “ Đà không sợ nớ thần sao?”.Lúc ấy vua mới biết mình đã mất nỏ thần ,vua cùng MC đằng sau ngựa chạy về phía Nam .Chỉ do tính chủ quan khinh địch ,do mất cảnh giác với địch. Do còn tình cảm nhiều, TT đã nhận thấy dc. lông ngỗng mà đuổi theo . Đến tới bờ biển , đường cùng không có ,ADV đã kêu cứu Rùa Vàng ,Rùa Vàng nghe thấy và nổi lên trên mặt nước nói: “ Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó!”. Vua liền tuốt kiếm chém MC và khấn: “ nếu có lòng phản nghịch mưu cha thỳ chết làm cát bụi còn nếu không thỳ chết đi sẽ biến thành ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Ở đây trên cướng vị của 1 người lãnh đạo dất nước để phán xét hành động của MC thỳ ADV làm như vậy là đúng .Nhưng đúng trên cương vị là 1 người cha thỳ điều này là cũng khá là tàn nhẫn nhưng ADV đã tuân theo lóng dân mà phải trị . Qua ciệc mất nước ,nhà tan của ADV ta thấy ta cần xừ lí những mối chung riêng cho đúng đắn ,phải luôn đặt trách nhiệm lên đầu. Tiếp đó MC chết máu chảy xuống biển sò ăn phài đều biến thành hạt châu , còn ADV cầm sừng tê 7 tấc ,Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua xuống biển .Điều đó chứng tỏ trong lòng nhân dân ADV luôn sống mãi ,người chỉ đi vào cái chết vĩnh hằng trong sự ngưỡng mộ của nhân dân . Khi đấy quân Đ à mới kéo đến chỉ thấy xác của MC ,TT ôm xác MC về táng ở thành Loa Thành ,xác biến thành ngọc thạch .MC chết TT thương tiết khôn nguôi ,khí tắm nhìn xuống giếng thấy bóng MC ngỡ là nàng lau đầu xuống giếng mà chết .Người sau tìm dc. ngọc ở biển Đống lấy nc’ ở giếng rửa ngọc càng sáng hơn . gọi là ngọc minh châu nghĩa đại cửu và tiểu cữu .
Truyện đã làm say đắm lòng người với những yếu tố thần kì với những yếu tố lịch sử, kết cấu chặt chẽ và đã xuất hiện dc. những nhân vật diển hình cao .Ngoài ra truyện cũng cho ta nhiều bài học sâu sắc về việc nguyên nhân mất nước Âu Lạc và việc giữ nước .
Qua đó nhân dân đã đưa ra những bài học sâu sắc cho những ai đã và đang có ý định xâm chiếm nước Âu Lạc, thỳ cuối cùng cũng nhận chung 1 hậu quà là cuối cùng cũng phải sống trong đau khổ và dày vò trong suốt quãng còn lại. .
Kể về sử thi "Đăm san"
Trong suốt quá trình phát triển của , mỗi dân tộc đều có một câu chuyện riêng cho mình. Nếu người Kinh ta có câu chuyện cổ tích về về người anh hung Thánh Gióng thì người Ê-đê lại có câu truyện sử thi kể về một người tù trưởng anh hùng của dân tộc mình với những chiến công hiển hách trong xây dựng phát triển buôn làng và bảo vệ cộng đồng chống lại bao kẻ thù hung hãn. Người đó chính là Đăm-săn.
Câu chuyện bắt đầu bằng việc kết hôn của Đăm-săn và hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị theo tục nối dây.Đăm săn trở thành một vị tù trưởng giàu có và hùng mạnh cùng với những chiến thắng lừng lẫy.Vì ganh ghét với Đăm Săn nên các tù trưởng Kên Kên, tù trưởng Sắt nhân lúc Đăm Săn đưa nô lệ lên rẫy, ra sông làm lụng đưa người vào đánh phá buôn làng của chàng, bắt Hơ Nhị về làm vợ. Hai lần Đăm Săn đưa quân đi đánh trả, cả hai lần chàng đều chiến thắng oanh liệt., cứu được vợ và tịch thu của cải, khiến chàng ngày càng giàu có và lẫy lừng danh tiếng. Một lần tình cờ gặp được cây sơ-múc, Đăm Săn ra sức chặt đổ kì được. Liền sau đó cả hai vợ đều chết, Đam San lại vác rìu đi lên trời, cầu xin Trời cứu sống hai người vợ. Chẳng bao lâu sau, Đăm Săn hỏi cưới nữ thần Mặt Trời nhưng bị từ chối. Tức giận, Đăm Săn bỏ về nhưng bị chết. Hồn chàng biến thành con ruồi bay vào miệng chị gái là Hơ Âng khiến nàng sinh ra đứa con trai.Đó là Đăm Săn cháu, lớn lên và tiếp bước người cậu anh hùng.
Sử thi Đăm Săn được xem như là một trong những tác phẩm nổi tiếng của dân tộc, tiêu biểu cho sức mạnh chính nghĩa và khát vọng của cộng đồng. Thông qua hình tượng người anh hùng Đăm Săn, người nhân thể hiện ước vọng của mình trong công cuộc chinh phục thiên nhiên. Điều đó được thể hiện qua hành động Đăm Săn hỏi cưới nữ thần Mặt Trời, vác rìu lên trời. Những chiến thắng và sự giàu có của chàng tượng trưng cho ước vọng ấm no hạnh phúc và trừng trị cái ác của dân tộc Ê-đê. Đồng thời hành động chặt đổ cây sơ-múc bên nhà vợ thể hiện ước muốn thoát khỏi tục nối dây để có thể tự do yêu nhau. Đăm Săn là anh hùng dũng cảm vô song trong chiến đấu. Trong cuộc chiến với Mtao Mxây, chàng thể hiện rõ được sức mạnh, tinh thần thượng võ của mình. Đăm Săn luôn giành thế chủ động, trong khi Mtao Mxây rơi vào thế bị động. Hình ảnh của chàng trong chiến đấu được miêu tả rất đẹp thông qua những hình ảnh so sánh, phóng đại. Mtao Mxây được miêu tả trước như là đòn bẩy để miêu tả hình ảnh Đăm Săn. Giọng bài văn trở nên hùng hồn, sôi động, thể hiện được tính ác liệt của cuộc chiến. Đăm Săn còn có khả năng thuyết phục người rất cao. Sau khi đánh bại tù trưởng Sắt, Đăm Săn kêu gọi được dân làn về cùng mình, làm cho bản làng ngày càng giàu có, hùng mạnh.
Bài văn sử dụng ngôn ngữ hiền hoà, linh hoạt, hướng đến nhiều đối tượng. Ngôn ngữ của nhân vật trong giao tiếp có những đặc điểm riêng, khai thác dưới nhiều góc độ. Những hình ảnh được sử dụng trong bài thân thuộc với thiên nhiên và cuộc sống hằng ngày của con người Tây Nguyên. Bằng những hình thức liệt kê miêu tả, bài văn càng làm cho giọng điệu trở nên sôi động hơn, và góp phần thể hiện đặc điểm của Đăm Săn.
Sử thi Đăm Săn là một trong những tác phẩm nổi tiếng của dân tộc Việt Nam. Trải qua thời gian, tác phầm càng ngày được hoàn thiện, và hình tượng Đăm Săn sẽ luôn sống mãi, vẫn luôn gắn bó với con người Tây Nguyên, cũng như con người Việt Nam. Tác phẩm sẽ giúp con người nhận thức được rằng: lẽ sống, niềm vui của người anh hùng sử thi có được trong cuộc chiến đấu vì danh dự, hạnh phúc và sữ thịnh vượng cho cộng đồng.
------------
Khoa Nhật -10A8- 2010-2011
Câu chuyện bắt đầu bằng việc kết hôn của Đăm-săn và hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị theo tục nối dây.Đăm săn trở thành một vị tù trưởng giàu có và hùng mạnh cùng với những chiến thắng lừng lẫy.Vì ganh ghét với Đăm Săn nên các tù trưởng Kên Kên, tù trưởng Sắt nhân lúc Đăm Săn đưa nô lệ lên rẫy, ra sông làm lụng đưa người vào đánh phá buôn làng của chàng, bắt Hơ Nhị về làm vợ. Hai lần Đăm Săn đưa quân đi đánh trả, cả hai lần chàng đều chiến thắng oanh liệt., cứu được vợ và tịch thu của cải, khiến chàng ngày càng giàu có và lẫy lừng danh tiếng. Một lần tình cờ gặp được cây sơ-múc, Đăm Săn ra sức chặt đổ kì được. Liền sau đó cả hai vợ đều chết, Đam San lại vác rìu đi lên trời, cầu xin Trời cứu sống hai người vợ. Chẳng bao lâu sau, Đăm Săn hỏi cưới nữ thần Mặt Trời nhưng bị từ chối. Tức giận, Đăm Săn bỏ về nhưng bị chết. Hồn chàng biến thành con ruồi bay vào miệng chị gái là Hơ Âng khiến nàng sinh ra đứa con trai.Đó là Đăm Săn cháu, lớn lên và tiếp bước người cậu anh hùng.
Sử thi Đăm Săn được xem như là một trong những tác phẩm nổi tiếng của dân tộc, tiêu biểu cho sức mạnh chính nghĩa và khát vọng của cộng đồng. Thông qua hình tượng người anh hùng Đăm Săn, người nhân thể hiện ước vọng của mình trong công cuộc chinh phục thiên nhiên. Điều đó được thể hiện qua hành động Đăm Săn hỏi cưới nữ thần Mặt Trời, vác rìu lên trời. Những chiến thắng và sự giàu có của chàng tượng trưng cho ước vọng ấm no hạnh phúc và trừng trị cái ác của dân tộc Ê-đê. Đồng thời hành động chặt đổ cây sơ-múc bên nhà vợ thể hiện ước muốn thoát khỏi tục nối dây để có thể tự do yêu nhau. Đăm Săn là anh hùng dũng cảm vô song trong chiến đấu. Trong cuộc chiến với Mtao Mxây, chàng thể hiện rõ được sức mạnh, tinh thần thượng võ của mình. Đăm Săn luôn giành thế chủ động, trong khi Mtao Mxây rơi vào thế bị động. Hình ảnh của chàng trong chiến đấu được miêu tả rất đẹp thông qua những hình ảnh so sánh, phóng đại. Mtao Mxây được miêu tả trước như là đòn bẩy để miêu tả hình ảnh Đăm Săn. Giọng bài văn trở nên hùng hồn, sôi động, thể hiện được tính ác liệt của cuộc chiến. Đăm Săn còn có khả năng thuyết phục người rất cao. Sau khi đánh bại tù trưởng Sắt, Đăm Săn kêu gọi được dân làn về cùng mình, làm cho bản làng ngày càng giàu có, hùng mạnh.
Bài văn sử dụng ngôn ngữ hiền hoà, linh hoạt, hướng đến nhiều đối tượng. Ngôn ngữ của nhân vật trong giao tiếp có những đặc điểm riêng, khai thác dưới nhiều góc độ. Những hình ảnh được sử dụng trong bài thân thuộc với thiên nhiên và cuộc sống hằng ngày của con người Tây Nguyên. Bằng những hình thức liệt kê miêu tả, bài văn càng làm cho giọng điệu trở nên sôi động hơn, và góp phần thể hiện đặc điểm của Đăm Săn.
Sử thi Đăm Săn là một trong những tác phẩm nổi tiếng của dân tộc Việt Nam. Trải qua thời gian, tác phầm càng ngày được hoàn thiện, và hình tượng Đăm Săn sẽ luôn sống mãi, vẫn luôn gắn bó với con người Tây Nguyên, cũng như con người Việt Nam. Tác phẩm sẽ giúp con người nhận thức được rằng: lẽ sống, niềm vui của người anh hùng sử thi có được trong cuộc chiến đấu vì danh dự, hạnh phúc và sữ thịnh vượng cho cộng đồng.
------------
Khoa Nhật -10A8- 2010-2011
Kể chuyện "Tấm Cám"
Cao Ý Ly
10A8
Võ Thị Sáu
Văn bản tự sự
Đề bài: Kể về câu truyện Tấm Cám
Bài làm
Trong kho tàng cổ tích của ông cha ta ngày xưa, có rất nhiều câu truyện hay, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Nhưng tiêu biểu nhất vẫn là câu truyện Tấm cám. Câu truyện thể hiện được mơ ước của những người nghèo khổ, bị áp bức muốn được sống hạnh phúc, công bằng trong cái xã hội phong kiến lúc bấy giờ.
Truyện Tấm Cám phản ánh mâu thuẫn xã hội xưa về quan hệ khắc nghiệt giữa mẹ ghẻ con chồng. Vì thế mà trong câu truyện, Tấm luôn bị mẹ con Cám bắt nạt và hành hạ. Sáng đến tối, Tấm phải làm việc quần quật từ chăn trâu, gánh nước, thái khoai, vớt bèo đến xay lúa giã gạo. Còn Cám thì luôn được cưng chiều, không phải làm bất cứ việc gì. Hôm nọ, mụ dì ghẻ đưa cho Tấm và Cám hai cái giỏ để bắt tôm tép, nếu ai bắt được đầy giỏ thì sẽ được một cái yếm đỏ. Có thể thấy, cái yếm đỏ đối với Tấm không chỉ là cái yếm đỏ thông thường mà còn là cái mơ ước về sự ăn mặc đẹp mà từ khi còn nhỏ Tấm chưa bao giờ có được. Nhưng công sức cả buổi trời chăm chỉ bắt tôm tép đã bị Cám dùng mưu mô gian trá lấy mất hết. Tấm không những mất yếm đỏ mà còn mất đi cái lòng tin về sự công bằng vốn có.
Sau khi bị lấy mất tôm tép, Tấm chỉ còn biết ôm mặt mà khóc, rồi Bụt hiện lên, như một điều thần kì đến với Tấm. Bụt đã chỉ cho Tấm con cá bống còn sót lại trong giỏ để đem về nuôi. Tấm vui mừng khôn xiết, ngày nào cũng vậy, Tấm cho cá bống ăn như đúng lời Bụt dặn, nàng gọi:
“ Bống bống bang bang
Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta
Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người”
Khi đó, cá bống lại nổi lên ăn, Tấm và bống quen nhau như hai nguời bạn thân. Nhưng niềm vui nhỏ nhoi ấy lại bị mẹ con Cám cướp đi, chúng đã rình xem, gọi bống lên và ăn thịt bống. Khi biết được, Tấm vô cùng đau buồn, nàng khóc rất nhiều, Bụt lại hiện lên và chỉ Tấm cách tìm xương rồi đem chôn vào hũ dưới châm giường.
Không lâu sau, nhà vua mở hội ở kinh thành, như bao cô gái khác, Tấm náo nức, chờ đợi được đi trẫy hội. Nhưng mụ dì ghẻ thâm độc ấy chỉ cho nàng đi dự hội khi nhặt xong đống thóc và gạo ra hai phần. Thừa biết mình không thể nào làm xong để đi dự hội, Tấm lại khóc, Bụt hiện lên chỉ cho Tấm kêu chim xuống nhặt giùm. Nhưng Tấm vẫn khóc vì không có quần áo đẹp, Bụt lại chỉ cho cách đào những lọ xương dưới chân giường lên, trong đó có đầy đủ đồ đẹp, nào là quần áo, nào là giày thêu và có cả con ngựa với bộ yên tuyệt đẹp nữa. Tấm vui mừng vội tắm rửa, thay đồ rồi cưỡi ngựa đến lễ hội. Trên đường đi, Tấm vô ý đánh rơi một chiếc giày. Tình cờ Vua đi qua và nhặt được. Chiếc hài xinh xắn được Vua ngắm nghía không chớp mắt và lệnh ai mang vừa hài sẽ được làm Hoàng hậu. Ai ai trong lễ hội đều háo hức mang thử nhưng chỉ có Tấm mang vừa giày dưới cặp mắt tức tối của mẹ con Cám.
Sau ngày hôm đó, Tấm sống hạnh phúc bên Vua nhưng cái hạnh phúc trong mơ ấy lại bị mẹ con Cám âm mưu đánh cắp. Trong một lần về giỗ cha, Tấm đã bị hại chết dưới âm mưu độc ác của mẹ con Cám. Tấm chết đi, Cám trơ trẽn đòi thay thế nhưng nhà Vua không hề quan tâm tới. Tuy thân xác chết đi mà linh hồn nàng đã biến thành con chim Vàng Anh hót líu lo bên cạnh nhà vua. Cám ghen tức, bắt và làm thịt chim Vàng Anh rồi đem lông vứt ra sân vườn. Không đầu hàng số phận, Tấm lại hoá thân thành cây xoan đào từ bộ lông đó và lấy bóng cây xoan đào che mát cho nhà vua. Cám lại chặt cây làm khung cửi, nhưng vì trong khung cửi luôn phát ra giọng nói của Tấm, Cám đem đốt và đổ tro đi thật xa. Từ đám tro đó lại mọc lên một cây thị, hương trái thị thơm ngào ngạt. Bà lão đi ngang qua và ngỏ lời xin trái thị đem về, thị tự khắc rơi vào bị bà. Sau nhiều lần hoá thân, để chứng tỏ sự hiện diện của mình trên cõi đời này, Tấm thật sự bước vào hành trình tự mình giành lại hạnh phúc. Dưới vỏ bọc quả thị, Tấm giúp bà lão việc nhà, cơm nước. Không lâu sau, Nàng bị bà cụ bắt gặp và giữ lại, bóp nát vỏ thị. Họ sống với nhau như mẹ con, bà cụ đặt biệt thích tài tiêm trầu cánh phượng của nàng. Một hôm, Vua đi ngang qua nhà bà cụ để xin một miếng nước và được bà cụ mời trầu. Vua nhìn miếng trầu tiêm cánh phượng, nhận ngay ra vợ mình và họ lại được sum họp. Cám ganh tỵ với chị mình và đã bỏ mạng vì muốn đẹp như chị. Đó cũng là cái giá phải trả cho sự ích kỷ, gian độc của bản thân Cám.
Câu truyện đề cập đến việc cái thiện luôn thắng cái ác, người sống hiền lành luôn được hạnh phúc và người làm việc ác luôn phải trả giá. Đó là quan niệm của ông cha ta ngày xưa : “Ác giả ác báo” và “Ở hiền gặp lành”. Qua câu truyện, còn thể hiện được khát vọng được sống hạnh phúc và sự công bằng trong cái xã hội phong kiến ngày xưa, nơi mà những người hiền lương như Tấm luôn bị đàn áp, chà đạp, không được hưởng cuộc sống đầy đủ như bao người khác. Và qua việc hoá thân liên tục của nàng Tấm đã thể hiện lòng kiên trì, quyết tâm vượt qua số phận của nhân dân xưa.
Từ đó, em thấy rằng người xưa luôn có quan niệm “Nhân nào quả nấy” và nếu muốn có được hạnh phúc thì phải tự mình nổ lực giành lấy như nàng Tấm trong truyện. Song song đó, còn thể hiện ước mơ được sống hạnh phúc, công bằng của con người.
10A8
Võ Thị Sáu
Văn bản tự sự
Đề bài: Kể về câu truyện Tấm Cám
Bài làm
Trong kho tàng cổ tích của ông cha ta ngày xưa, có rất nhiều câu truyện hay, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Nhưng tiêu biểu nhất vẫn là câu truyện Tấm cám. Câu truyện thể hiện được mơ ước của những người nghèo khổ, bị áp bức muốn được sống hạnh phúc, công bằng trong cái xã hội phong kiến lúc bấy giờ.
Truyện Tấm Cám phản ánh mâu thuẫn xã hội xưa về quan hệ khắc nghiệt giữa mẹ ghẻ con chồng. Vì thế mà trong câu truyện, Tấm luôn bị mẹ con Cám bắt nạt và hành hạ. Sáng đến tối, Tấm phải làm việc quần quật từ chăn trâu, gánh nước, thái khoai, vớt bèo đến xay lúa giã gạo. Còn Cám thì luôn được cưng chiều, không phải làm bất cứ việc gì. Hôm nọ, mụ dì ghẻ đưa cho Tấm và Cám hai cái giỏ để bắt tôm tép, nếu ai bắt được đầy giỏ thì sẽ được một cái yếm đỏ. Có thể thấy, cái yếm đỏ đối với Tấm không chỉ là cái yếm đỏ thông thường mà còn là cái mơ ước về sự ăn mặc đẹp mà từ khi còn nhỏ Tấm chưa bao giờ có được. Nhưng công sức cả buổi trời chăm chỉ bắt tôm tép đã bị Cám dùng mưu mô gian trá lấy mất hết. Tấm không những mất yếm đỏ mà còn mất đi cái lòng tin về sự công bằng vốn có.
Sau khi bị lấy mất tôm tép, Tấm chỉ còn biết ôm mặt mà khóc, rồi Bụt hiện lên, như một điều thần kì đến với Tấm. Bụt đã chỉ cho Tấm con cá bống còn sót lại trong giỏ để đem về nuôi. Tấm vui mừng khôn xiết, ngày nào cũng vậy, Tấm cho cá bống ăn như đúng lời Bụt dặn, nàng gọi:
“ Bống bống bang bang
Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta
Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người”
Khi đó, cá bống lại nổi lên ăn, Tấm và bống quen nhau như hai nguời bạn thân. Nhưng niềm vui nhỏ nhoi ấy lại bị mẹ con Cám cướp đi, chúng đã rình xem, gọi bống lên và ăn thịt bống. Khi biết được, Tấm vô cùng đau buồn, nàng khóc rất nhiều, Bụt lại hiện lên và chỉ Tấm cách tìm xương rồi đem chôn vào hũ dưới châm giường.
Không lâu sau, nhà vua mở hội ở kinh thành, như bao cô gái khác, Tấm náo nức, chờ đợi được đi trẫy hội. Nhưng mụ dì ghẻ thâm độc ấy chỉ cho nàng đi dự hội khi nhặt xong đống thóc và gạo ra hai phần. Thừa biết mình không thể nào làm xong để đi dự hội, Tấm lại khóc, Bụt hiện lên chỉ cho Tấm kêu chim xuống nhặt giùm. Nhưng Tấm vẫn khóc vì không có quần áo đẹp, Bụt lại chỉ cho cách đào những lọ xương dưới chân giường lên, trong đó có đầy đủ đồ đẹp, nào là quần áo, nào là giày thêu và có cả con ngựa với bộ yên tuyệt đẹp nữa. Tấm vui mừng vội tắm rửa, thay đồ rồi cưỡi ngựa đến lễ hội. Trên đường đi, Tấm vô ý đánh rơi một chiếc giày. Tình cờ Vua đi qua và nhặt được. Chiếc hài xinh xắn được Vua ngắm nghía không chớp mắt và lệnh ai mang vừa hài sẽ được làm Hoàng hậu. Ai ai trong lễ hội đều háo hức mang thử nhưng chỉ có Tấm mang vừa giày dưới cặp mắt tức tối của mẹ con Cám.
Sau ngày hôm đó, Tấm sống hạnh phúc bên Vua nhưng cái hạnh phúc trong mơ ấy lại bị mẹ con Cám âm mưu đánh cắp. Trong một lần về giỗ cha, Tấm đã bị hại chết dưới âm mưu độc ác của mẹ con Cám. Tấm chết đi, Cám trơ trẽn đòi thay thế nhưng nhà Vua không hề quan tâm tới. Tuy thân xác chết đi mà linh hồn nàng đã biến thành con chim Vàng Anh hót líu lo bên cạnh nhà vua. Cám ghen tức, bắt và làm thịt chim Vàng Anh rồi đem lông vứt ra sân vườn. Không đầu hàng số phận, Tấm lại hoá thân thành cây xoan đào từ bộ lông đó và lấy bóng cây xoan đào che mát cho nhà vua. Cám lại chặt cây làm khung cửi, nhưng vì trong khung cửi luôn phát ra giọng nói của Tấm, Cám đem đốt và đổ tro đi thật xa. Từ đám tro đó lại mọc lên một cây thị, hương trái thị thơm ngào ngạt. Bà lão đi ngang qua và ngỏ lời xin trái thị đem về, thị tự khắc rơi vào bị bà. Sau nhiều lần hoá thân, để chứng tỏ sự hiện diện của mình trên cõi đời này, Tấm thật sự bước vào hành trình tự mình giành lại hạnh phúc. Dưới vỏ bọc quả thị, Tấm giúp bà lão việc nhà, cơm nước. Không lâu sau, Nàng bị bà cụ bắt gặp và giữ lại, bóp nát vỏ thị. Họ sống với nhau như mẹ con, bà cụ đặt biệt thích tài tiêm trầu cánh phượng của nàng. Một hôm, Vua đi ngang qua nhà bà cụ để xin một miếng nước và được bà cụ mời trầu. Vua nhìn miếng trầu tiêm cánh phượng, nhận ngay ra vợ mình và họ lại được sum họp. Cám ganh tỵ với chị mình và đã bỏ mạng vì muốn đẹp như chị. Đó cũng là cái giá phải trả cho sự ích kỷ, gian độc của bản thân Cám.
Câu truyện đề cập đến việc cái thiện luôn thắng cái ác, người sống hiền lành luôn được hạnh phúc và người làm việc ác luôn phải trả giá. Đó là quan niệm của ông cha ta ngày xưa : “Ác giả ác báo” và “Ở hiền gặp lành”. Qua câu truyện, còn thể hiện được khát vọng được sống hạnh phúc và sự công bằng trong cái xã hội phong kiến ngày xưa, nơi mà những người hiền lương như Tấm luôn bị đàn áp, chà đạp, không được hưởng cuộc sống đầy đủ như bao người khác. Và qua việc hoá thân liên tục của nàng Tấm đã thể hiện lòng kiên trì, quyết tâm vượt qua số phận của nhân dân xưa.
Từ đó, em thấy rằng người xưa luôn có quan niệm “Nhân nào quả nấy” và nếu muốn có được hạnh phúc thì phải tự mình nổ lực giành lấy như nàng Tấm trong truyện. Song song đó, còn thể hiện ước mơ được sống hạnh phúc, công bằng của con người.
Kể lại truyện thơ "Tiễn dặn người yêu" (Xống chụ xon xao)
Tên: Nguyễn Hà Thanh Vy
STT: 44
Lớp: 10A8
Đề bài: Hãy kể 1 câu truyện mà em yêu thích.
Kể truyện: Tiễn dặn người yêu(Xống chụ xon xao)
(Dân tộc Thái)
Trong cuộc sống cũng như trong học tập, ta đã từng được nghe rất nhiều câu chuyện. Nhưng có lẽ, tình cảm lứa đôi cũng là một trong những chủ đề đáng quan tâm nhất. Tiễn dặn người yêu cũng lá một câu chuyện tình cảm động, là một tác phẩm nổi bật của dân tộc Thái. Được viết dưới hình thức truyện thơ, “Tiễn dặn người yêu” như một giai điệu sâu lắng giúp người đọc cảm được nội dung và giá trị sâu sắc của câu chuyện.
“Tiễn dặn người yêu” là một truyện thơ với 1846 câu thơ nói về một mối tình chung thủy, trải qua biết bao khó khăn, trắc trở, cuối cùng họ cũng được đoàn tụ và sống hạnh phúc bên nhau. Và lời kể do chính nhân vật trong cuộc kể lại chuyện tình yêu-hôn nhân của mình, làm cho câu chuyện trở nên rất chân thật và ngập tràn ý nghĩa.
Chàng trai và cô gái trong truyện là một đôi bạn dường như rất thân thiết từ thời thơ ấu. Họ chia sẻ với nhau cho đến khi lớn lên, giữa họ nảy sinh một tình cảm. Họ yêu nhau tha thiết và mong muốn được nên duyên vợ chồng. Chàng trai chủ động nhờ người làm mối dẫn đến với mong muốn được kết hôn và xin được ở rễ. Tưởng chừng như mọi chuyện sẽ êm đẹp, thế nhưng, cha mẹ cô gái lại gạt phắt đi và từ chối vì anh chàng quá nghèo. Ngay chính lúc đó, có 1 người lạ mặt đến xin làm rễ. Tên này là một kẻ thô lỗ, cẩu thả, bê bối, ứng xử vừa hèn hạ lại vừa thiếu lễ độ, nhưng tài sản và tiền của của hắn đã làm cha mẹ cô gái mờ cả mắt. Họ bất chấp tất cả để đồng ý. Và sóng gió đã bắt đầu ập lên mối tình đẹp của đôi trai gái.
Người đàn ông về ở rễ, chàng trai đau khổ đến tột cùng. Anh quyết định bỏ nhà ra đi với ý chí làm giàu rồi về xin được cưới cô gái. Cô gái ở lại một lòng chờ đợi người yêu của mình quay về. Theo phong tục, hết hạn ở rễ, người kia xin cưới. Ngay lúc đó thì chàng trai trở về, lúc bấy giờ anh đã giàu có, nhưng số phận không mỉm cười với anh, cô gái đã rơi vào tay kẻ kia mất rồi. Anh tiễn cô gái đi trong nước mắt và lưu luyến. Hai người bịn rịn không muốn rời nhau. Anh tiễn cô gái đi với biết bao lời tiễn dặn. Một câu nói của anh đã đủ để chứng minh tình yêu mãnh liệt giữa hai người: “ Không lấy được nhau thời trẻ thi hãy lấy nhau khi góa bụa về già”.
Về nhà chồng ở, nhớ lời chàng trai, cô cố hết sức để tỏ ra vụng về, hậu đậu khiến nhà chồng chán nản mà trả cô về lại với cha mẹ. Nhưng kế hoạch nào đâu như ý, cô lại bị cha mẹ mình đem bán vào cửa nhà quan. Sự đau khổ và nỗi thất vọng của cô lại càng tăng lên gấp bội, càng đau khổ bao nhiêu cô lại càng phá phách bấy nhiêu. Những hành động “giã gạo – quăng chày , phơi thóc – chửi sàn mắng cót” rồi lại “dỡ xôi – quật mâm vỡ” cốt sao để lại được trả về cho gia đình. Nhưng cô gái như một món hàng hóa, nhà quan đã mua đứt rồi thì không thể trả lại. Họ bèn đưa cô ra chợ bán, nhưng kẻ qua người lại không ai buồn hỏi đến cô. Ta có thể thấy được sự đau đớn tột cùng khi một con người mà chẳng khác chi một thứ rẻ tiền vứt đi. Chơ tan, ngại lại phải đem cô gái trở về nhà, họ liền đổi cô để lấy một cuộn lá dong.
Ngờ đâu, người đổi được cô gái lại chính là người yêu thưở nào. Nhưng cô gái giờ đây tiều tụy, xanh xao, hốc hác đến nỗi không thể nhận ra. Một ngày mưa kia, cô gái tủi phận ngồi trong xó bếp, bèn lấy chiếc đàn môi- kỉ vật tình yêu của hai người ra để gợi nhớ lại chuyện tình yêu khi xưa. Chàng vô tình nghe thấy được, bang hoàng nhận ra người yêu, hai người vui mừng khôn siết. Chàng liền lập tức chia đôi tài sản của mình để tiễn vợ về nhà, họ cưới nhau và trọn lời thể ước khi xưa : “Không lấy được nhau khi mùa hạ, ta sẽ lấy nhau mùa đông”. Ta có thể thấy được sự chung tình giữa cặp đôi này. Cho dù xa cách, cho dù trải qua biết bao nhiêu chuyện đau khổ, nhưng học vẫn vượt lên hết tất cả và đến với nhau.
Câu chuyện là một bức tranh tuyệt đẹp về chủ đề tình yêu. Với 1 loạt hình ảnh ẩn dụ được chắt lọc từ cuộc sống, từ thiên nhiên nên rất gần gũi, bình dị và dễ hiểu. Hình ảnh so sánh, điệp từ điệp ngữ đã góp một phần rất lớn để hình thành nên nội dung câu chuyện, và hơn hết là miêu tả hoàn toàn sâu sắc và chân thật về tâm lí của chàng trai và suy nghĩ, nỗi đau của cô gái khi cô bị nhà chồng đối xử tệ bạc và đánh đập hành hạ. Truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” cũng là tiếng nói và sự lên án của con người về tục ép duyên, là một việc mà đã đánh cắp đi biết bao nhiêu mối tình đẹp và khát vọng của con người.
Quả thật, câu truyện như một món quà tặng gửi đến bạn đọc. Đọc truyện, ta lại càng cảm thấy thương sao những con người ước mơ một hạnh phúc nhưng lại rất khó khăn để có được và thậm chí là sẽ không giờ có được. Câu truyện còn cho ta một bài học là phải biết cố gắng, phấn đấu, quyết tâm để đạt được những điều mong muốn chính đáng của bản thân mình.
STT: 44
Lớp: 10A8
Đề bài: Hãy kể 1 câu truyện mà em yêu thích.
Kể truyện: Tiễn dặn người yêu(Xống chụ xon xao)
(Dân tộc Thái)
Trong cuộc sống cũng như trong học tập, ta đã từng được nghe rất nhiều câu chuyện. Nhưng có lẽ, tình cảm lứa đôi cũng là một trong những chủ đề đáng quan tâm nhất. Tiễn dặn người yêu cũng lá một câu chuyện tình cảm động, là một tác phẩm nổi bật của dân tộc Thái. Được viết dưới hình thức truyện thơ, “Tiễn dặn người yêu” như một giai điệu sâu lắng giúp người đọc cảm được nội dung và giá trị sâu sắc của câu chuyện.
“Tiễn dặn người yêu” là một truyện thơ với 1846 câu thơ nói về một mối tình chung thủy, trải qua biết bao khó khăn, trắc trở, cuối cùng họ cũng được đoàn tụ và sống hạnh phúc bên nhau. Và lời kể do chính nhân vật trong cuộc kể lại chuyện tình yêu-hôn nhân của mình, làm cho câu chuyện trở nên rất chân thật và ngập tràn ý nghĩa.
Chàng trai và cô gái trong truyện là một đôi bạn dường như rất thân thiết từ thời thơ ấu. Họ chia sẻ với nhau cho đến khi lớn lên, giữa họ nảy sinh một tình cảm. Họ yêu nhau tha thiết và mong muốn được nên duyên vợ chồng. Chàng trai chủ động nhờ người làm mối dẫn đến với mong muốn được kết hôn và xin được ở rễ. Tưởng chừng như mọi chuyện sẽ êm đẹp, thế nhưng, cha mẹ cô gái lại gạt phắt đi và từ chối vì anh chàng quá nghèo. Ngay chính lúc đó, có 1 người lạ mặt đến xin làm rễ. Tên này là một kẻ thô lỗ, cẩu thả, bê bối, ứng xử vừa hèn hạ lại vừa thiếu lễ độ, nhưng tài sản và tiền của của hắn đã làm cha mẹ cô gái mờ cả mắt. Họ bất chấp tất cả để đồng ý. Và sóng gió đã bắt đầu ập lên mối tình đẹp của đôi trai gái.
Người đàn ông về ở rễ, chàng trai đau khổ đến tột cùng. Anh quyết định bỏ nhà ra đi với ý chí làm giàu rồi về xin được cưới cô gái. Cô gái ở lại một lòng chờ đợi người yêu của mình quay về. Theo phong tục, hết hạn ở rễ, người kia xin cưới. Ngay lúc đó thì chàng trai trở về, lúc bấy giờ anh đã giàu có, nhưng số phận không mỉm cười với anh, cô gái đã rơi vào tay kẻ kia mất rồi. Anh tiễn cô gái đi trong nước mắt và lưu luyến. Hai người bịn rịn không muốn rời nhau. Anh tiễn cô gái đi với biết bao lời tiễn dặn. Một câu nói của anh đã đủ để chứng minh tình yêu mãnh liệt giữa hai người: “ Không lấy được nhau thời trẻ thi hãy lấy nhau khi góa bụa về già”.
Về nhà chồng ở, nhớ lời chàng trai, cô cố hết sức để tỏ ra vụng về, hậu đậu khiến nhà chồng chán nản mà trả cô về lại với cha mẹ. Nhưng kế hoạch nào đâu như ý, cô lại bị cha mẹ mình đem bán vào cửa nhà quan. Sự đau khổ và nỗi thất vọng của cô lại càng tăng lên gấp bội, càng đau khổ bao nhiêu cô lại càng phá phách bấy nhiêu. Những hành động “giã gạo – quăng chày , phơi thóc – chửi sàn mắng cót” rồi lại “dỡ xôi – quật mâm vỡ” cốt sao để lại được trả về cho gia đình. Nhưng cô gái như một món hàng hóa, nhà quan đã mua đứt rồi thì không thể trả lại. Họ bèn đưa cô ra chợ bán, nhưng kẻ qua người lại không ai buồn hỏi đến cô. Ta có thể thấy được sự đau đớn tột cùng khi một con người mà chẳng khác chi một thứ rẻ tiền vứt đi. Chơ tan, ngại lại phải đem cô gái trở về nhà, họ liền đổi cô để lấy một cuộn lá dong.
Ngờ đâu, người đổi được cô gái lại chính là người yêu thưở nào. Nhưng cô gái giờ đây tiều tụy, xanh xao, hốc hác đến nỗi không thể nhận ra. Một ngày mưa kia, cô gái tủi phận ngồi trong xó bếp, bèn lấy chiếc đàn môi- kỉ vật tình yêu của hai người ra để gợi nhớ lại chuyện tình yêu khi xưa. Chàng vô tình nghe thấy được, bang hoàng nhận ra người yêu, hai người vui mừng khôn siết. Chàng liền lập tức chia đôi tài sản của mình để tiễn vợ về nhà, họ cưới nhau và trọn lời thể ước khi xưa : “Không lấy được nhau khi mùa hạ, ta sẽ lấy nhau mùa đông”. Ta có thể thấy được sự chung tình giữa cặp đôi này. Cho dù xa cách, cho dù trải qua biết bao nhiêu chuyện đau khổ, nhưng học vẫn vượt lên hết tất cả và đến với nhau.
Câu chuyện là một bức tranh tuyệt đẹp về chủ đề tình yêu. Với 1 loạt hình ảnh ẩn dụ được chắt lọc từ cuộc sống, từ thiên nhiên nên rất gần gũi, bình dị và dễ hiểu. Hình ảnh so sánh, điệp từ điệp ngữ đã góp một phần rất lớn để hình thành nên nội dung câu chuyện, và hơn hết là miêu tả hoàn toàn sâu sắc và chân thật về tâm lí của chàng trai và suy nghĩ, nỗi đau của cô gái khi cô bị nhà chồng đối xử tệ bạc và đánh đập hành hạ. Truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” cũng là tiếng nói và sự lên án của con người về tục ép duyên, là một việc mà đã đánh cắp đi biết bao nhiêu mối tình đẹp và khát vọng của con người.
Quả thật, câu truyện như một món quà tặng gửi đến bạn đọc. Đọc truyện, ta lại càng cảm thấy thương sao những con người ước mơ một hạnh phúc nhưng lại rất khó khăn để có được và thậm chí là sẽ không giờ có được. Câu truyện còn cho ta một bài học là phải biết cố gắng, phấn đấu, quyết tâm để đạt được những điều mong muốn chính đáng của bản thân mình.
Kể lại sử thi "Ramayana"
Tên : Lê Minh Thảo
Lớp: 10A8
BÀI LÀM VĂN tự sự
Đề: Kể truyện “Ramayana”
Bài làm
Sử thi Ấn Độ nổi tiếng có tầm ảnh hưởng sâu rộng, lâu bền trong văn học, văn hóa của dân tộc Ấn và ở nhiều nước Đông Nam Á. Một trong những sử thi tôi rất thích đó là “Ra-ma-ya-na”, tác phẩm hình thành vào khoảng thế kỉ IV- III trước công nguyên và được hoàn thiện bởi người đạo sĩ tài ba Van-mi-ki. Sử thi này gồm 24 000 câu thơ đôi và để hiểu kĩ hơn, ta hãy cùng tóm lược những dòng thơ đầy oai hùng này của Van-mi-ki nhé!
Ra-ma-ya-na là câu chuyện kể về những kì tích của hoàng tử Ra-ma – con trai trưởng của vua Đa-xa-ra-tha. Khi nhà vua muốn truyền ngôi báu cho con trai mình thì thứ phi của ông buộc phải đày ải Ra-ma vào rừng mười bốn năm và trao vương quốc cho con trai bà. Vợ Ra-ma, Xi-ta, là con của thần Đất mẹ Pri-thi-vi, cũng tình nguyện theo Ra-ma chịu lưu đày. Khi thời hạn lưu đày sắp hết, quỉ Ra-va-na dùng mưu bắt cóc Xi-ta. Ra-ma đau buồn khôn xiết và chàng bắt đầu cuộc tìm kiếm vợ mình. Trên đường tìm vợ, Ra-ma gặp và giúp đỡ vua khỉ Xu-gri-va chống lại người anh trai, giành lại vương quốc. Sau đó, chàng được vua khỉ cùng đoàn quân vượt biển, giải cứu Xi-ta ở đảo Lan-ka.
Vợ chồng gặp lại nhau, vô cùng mừng rỡ. Ra-ma nói với Xi-ta bằng một lời lẽ trịnh trọng : “hỡi phu nhân cao quí của ta!”. Chàng đã đánh bại kẻ thù bằng hết khả năng của mình để cứu Xi-ta. Nhưng đó không phải là lí do chính để chàng giết quỉ Gia-na-va, mà vì nhân phẩm của chàng, để xóa bỏ vết ô nhục, để bảo vệ uy tín và danh dự của một dòng họ lừng lẫy, tiếng tăm, để chứng tỏ Ra-ma không thuộc về một gia đình bình thường và vì chàng là một vị anh hùng lí tưởng cho cả dân tộc :” kẻ nào bị quân thù lăng nhục mà không đem tài nghệ mình ra để trả thù là kẻ tầm thường”.
Mặc dù Xi-ta đang mở tròn đôi mắt đẫm lệ với khuôn mặt bông sen, cuộn tóc lượn sóng đứng trước nặt Ra-ma và lòng chàng đang đau như cắt, nhưng vị anh hung dân tộc vẫn phải đưa lời phán quyết người vợ thân yêu của mình :” Nay ta phải nghi ngờ tư cách của nàng, vì nàng đã lưu lại lâu trong nhà một kẻ xa lạ. Giờ đây, nàng đang đứng trước mặt ta, nhưng trông thấy nàng, ta không chịu nỗi, chẳng khác nào ánh sáng đối với người bị đau mắt. Vậy ta nói cho nàng hay, nàng muốn đi đâu tùy nàng, ta không ưng có nàng nữa…”. Nghe những lời giận dữ đó của Ra-ma, Xi-ta đau đớn đến nghẹt thở, như một cây dây leo bị vòi voi quật nát. Trước mặt đông đủ người dân, Xi-ta xấu hổ cho số kiếp của nàng, nàng như muốn chôn vùi cả hình hài thân xác của mình. Mỗi lời nói của của người chồng nàng yêu xuyên vào trái tim nàng như một mũi tên . Nước mắt nàng òa ra như suối, nhưng nó đã kịp nén lại. Gịong nàng vừa nghẹn ngào, vừa nức nở thanh minh cho mình qua những lời nói tố cáo lầm lạc của Ra-ma: nàng quả quyết rằng có thể lấy tư cách mà thề để làm Ra-ma tin vào danh dự của một người vợ chung thủy. Khi Ra-va-na đụng tới nàng thì nàng đang chết ngất đi, những gì Xi-ta có thể kiểm soát , tức là trái tim nàng, là chỉ thuộc về một mình Ra-ma! Nhưng nói đến đây, Ra-ma vẫn không thốt lên một lời nào, chàng vẫn chưa thể tin vào những lời thanh minh của người vợ đã xa cách mình khi lọt vào tay quỉ. Nàng vẫn nức nở: “thiếp còn gì là thanh danh, nếu như chàng vẫn chưa hiểu được thiếp qua tình yêu của thiếp và qua tiếp xúc với tâm hồn của thiếp… Hỡi Đức vua! Như một người thấp hèn bị cơn giận gàiy vò, Người đang nghĩ về thiếp như một phụ nữ tầm thường... Tình yêu của thiếp, lòng trung thành của thiếp nay xem ra hoàn toàn vô ích!”
Dứt lời, Xi-ta òa khóc. Nàng nói với người em Lắc-ma-na: “ Hỡi Lắc-ma-na, em hãy chuẩn bị cho chị một giàn hỏa thiêu. Với nông nỗi đáng buồn hiện nay, đó là phương thức duy nhất cho chị. Chị không muốn sống sau những tố cáo lầm lạc như vậy. Chồng chị không hài lòng về chị, chàng đã ruồng rẫy chị trước mặt mọi người. Giờ thì chị sẽ từ bỏ tấm thân này cho ngọn lửa”. Ra-ma vẫn ngồi, mắt dán xuống đất, ko ai dám nói hoặc nhìn vào chàng, lúc đó nom chàng khủng khiếp như thần Chết vậy.
Xi-ta lượn quanh Ra-ma rồi bươc tới giàn lửa. Nàng cúi lạy chu than, đấng Bra-ma rồi thưa với thần Lửa A-nhi: “Nếu con trước sau một lòng một dạ với Ra-ma thì cúi xin thần hãy tìm cách bảo vệ con., Ra-ma đã coi một phụ nữ trinh tiết như một kẻ gian dối, nhưng nếu con trong trắng, xin thần A-nhi phù hộ cho con”.
Nói dứt lời, Xi-ta dũng cảm bước vào giàn lửa, chẳng khác một lễ vật của lễ tế sinh trong sự đau lòng đứt ruột của mọi người. Nhưng trời đã chứng giám cho đức hạnh của nàng, thần Lửa đem nàng trả lại cho Ra-ma. Anh hùng Ra-ma cùng người vợ thủy chung quay trở về kinh đô, cai quản đất nước trong thái bình, thịnh vượng.
Tính cách của nhân vật đã bộc lộ qua những thử thách, mâu thuẫn và những lời nói quả quyết. Ra-ma-ya-na ca ngợi phẩm chất của người anh hùng và người phụ nữ lí tưởng: trọng danh dự, dùng tài năng để bảo vệ danh dự, phẩm chất của mình. Qua sự tài ba của Van-mi-ki, thể hiện quan niệm của người Ấn Độ cổ đại về một đấng minh quân và một người phụ nữ lí tưởng.
Ra-ma và Xi-ta đã dũng cảm vào sinh ra tử, chiến đấu cho danh dự, giành lại phẩm hạnh cho bản thân mình. Người Ấn Độ tin rằng: chừng nào sông chưa cạn, núi chưa mòn thì Ra-ma-ya-na còn làm say đắm lòng người và cứu vớt họ thoát khỏi tội lỗi.
Lớp: 10A8
BÀI LÀM VĂN tự sự
Đề: Kể truyện “Ramayana”
Bài làm
Sử thi Ấn Độ nổi tiếng có tầm ảnh hưởng sâu rộng, lâu bền trong văn học, văn hóa của dân tộc Ấn và ở nhiều nước Đông Nam Á. Một trong những sử thi tôi rất thích đó là “Ra-ma-ya-na”, tác phẩm hình thành vào khoảng thế kỉ IV- III trước công nguyên và được hoàn thiện bởi người đạo sĩ tài ba Van-mi-ki. Sử thi này gồm 24 000 câu thơ đôi và để hiểu kĩ hơn, ta hãy cùng tóm lược những dòng thơ đầy oai hùng này của Van-mi-ki nhé!
Ra-ma-ya-na là câu chuyện kể về những kì tích của hoàng tử Ra-ma – con trai trưởng của vua Đa-xa-ra-tha. Khi nhà vua muốn truyền ngôi báu cho con trai mình thì thứ phi của ông buộc phải đày ải Ra-ma vào rừng mười bốn năm và trao vương quốc cho con trai bà. Vợ Ra-ma, Xi-ta, là con của thần Đất mẹ Pri-thi-vi, cũng tình nguyện theo Ra-ma chịu lưu đày. Khi thời hạn lưu đày sắp hết, quỉ Ra-va-na dùng mưu bắt cóc Xi-ta. Ra-ma đau buồn khôn xiết và chàng bắt đầu cuộc tìm kiếm vợ mình. Trên đường tìm vợ, Ra-ma gặp và giúp đỡ vua khỉ Xu-gri-va chống lại người anh trai, giành lại vương quốc. Sau đó, chàng được vua khỉ cùng đoàn quân vượt biển, giải cứu Xi-ta ở đảo Lan-ka.
Vợ chồng gặp lại nhau, vô cùng mừng rỡ. Ra-ma nói với Xi-ta bằng một lời lẽ trịnh trọng : “hỡi phu nhân cao quí của ta!”. Chàng đã đánh bại kẻ thù bằng hết khả năng của mình để cứu Xi-ta. Nhưng đó không phải là lí do chính để chàng giết quỉ Gia-na-va, mà vì nhân phẩm của chàng, để xóa bỏ vết ô nhục, để bảo vệ uy tín và danh dự của một dòng họ lừng lẫy, tiếng tăm, để chứng tỏ Ra-ma không thuộc về một gia đình bình thường và vì chàng là một vị anh hùng lí tưởng cho cả dân tộc :” kẻ nào bị quân thù lăng nhục mà không đem tài nghệ mình ra để trả thù là kẻ tầm thường”.
Mặc dù Xi-ta đang mở tròn đôi mắt đẫm lệ với khuôn mặt bông sen, cuộn tóc lượn sóng đứng trước nặt Ra-ma và lòng chàng đang đau như cắt, nhưng vị anh hung dân tộc vẫn phải đưa lời phán quyết người vợ thân yêu của mình :” Nay ta phải nghi ngờ tư cách của nàng, vì nàng đã lưu lại lâu trong nhà một kẻ xa lạ. Giờ đây, nàng đang đứng trước mặt ta, nhưng trông thấy nàng, ta không chịu nỗi, chẳng khác nào ánh sáng đối với người bị đau mắt. Vậy ta nói cho nàng hay, nàng muốn đi đâu tùy nàng, ta không ưng có nàng nữa…”. Nghe những lời giận dữ đó của Ra-ma, Xi-ta đau đớn đến nghẹt thở, như một cây dây leo bị vòi voi quật nát. Trước mặt đông đủ người dân, Xi-ta xấu hổ cho số kiếp của nàng, nàng như muốn chôn vùi cả hình hài thân xác của mình. Mỗi lời nói của của người chồng nàng yêu xuyên vào trái tim nàng như một mũi tên . Nước mắt nàng òa ra như suối, nhưng nó đã kịp nén lại. Gịong nàng vừa nghẹn ngào, vừa nức nở thanh minh cho mình qua những lời nói tố cáo lầm lạc của Ra-ma: nàng quả quyết rằng có thể lấy tư cách mà thề để làm Ra-ma tin vào danh dự của một người vợ chung thủy. Khi Ra-va-na đụng tới nàng thì nàng đang chết ngất đi, những gì Xi-ta có thể kiểm soát , tức là trái tim nàng, là chỉ thuộc về một mình Ra-ma! Nhưng nói đến đây, Ra-ma vẫn không thốt lên một lời nào, chàng vẫn chưa thể tin vào những lời thanh minh của người vợ đã xa cách mình khi lọt vào tay quỉ. Nàng vẫn nức nở: “thiếp còn gì là thanh danh, nếu như chàng vẫn chưa hiểu được thiếp qua tình yêu của thiếp và qua tiếp xúc với tâm hồn của thiếp… Hỡi Đức vua! Như một người thấp hèn bị cơn giận gàiy vò, Người đang nghĩ về thiếp như một phụ nữ tầm thường... Tình yêu của thiếp, lòng trung thành của thiếp nay xem ra hoàn toàn vô ích!”
Dứt lời, Xi-ta òa khóc. Nàng nói với người em Lắc-ma-na: “ Hỡi Lắc-ma-na, em hãy chuẩn bị cho chị một giàn hỏa thiêu. Với nông nỗi đáng buồn hiện nay, đó là phương thức duy nhất cho chị. Chị không muốn sống sau những tố cáo lầm lạc như vậy. Chồng chị không hài lòng về chị, chàng đã ruồng rẫy chị trước mặt mọi người. Giờ thì chị sẽ từ bỏ tấm thân này cho ngọn lửa”. Ra-ma vẫn ngồi, mắt dán xuống đất, ko ai dám nói hoặc nhìn vào chàng, lúc đó nom chàng khủng khiếp như thần Chết vậy.
Xi-ta lượn quanh Ra-ma rồi bươc tới giàn lửa. Nàng cúi lạy chu than, đấng Bra-ma rồi thưa với thần Lửa A-nhi: “Nếu con trước sau một lòng một dạ với Ra-ma thì cúi xin thần hãy tìm cách bảo vệ con., Ra-ma đã coi một phụ nữ trinh tiết như một kẻ gian dối, nhưng nếu con trong trắng, xin thần A-nhi phù hộ cho con”.
Nói dứt lời, Xi-ta dũng cảm bước vào giàn lửa, chẳng khác một lễ vật của lễ tế sinh trong sự đau lòng đứt ruột của mọi người. Nhưng trời đã chứng giám cho đức hạnh của nàng, thần Lửa đem nàng trả lại cho Ra-ma. Anh hùng Ra-ma cùng người vợ thủy chung quay trở về kinh đô, cai quản đất nước trong thái bình, thịnh vượng.
Tính cách của nhân vật đã bộc lộ qua những thử thách, mâu thuẫn và những lời nói quả quyết. Ra-ma-ya-na ca ngợi phẩm chất của người anh hùng và người phụ nữ lí tưởng: trọng danh dự, dùng tài năng để bảo vệ danh dự, phẩm chất của mình. Qua sự tài ba của Van-mi-ki, thể hiện quan niệm của người Ấn Độ cổ đại về một đấng minh quân và một người phụ nữ lí tưởng.
Ra-ma và Xi-ta đã dũng cảm vào sinh ra tử, chiến đấu cho danh dự, giành lại phẩm hạnh cho bản thân mình. Người Ấn Độ tin rằng: chừng nào sông chưa cạn, núi chưa mòn thì Ra-ma-ya-na còn làm say đắm lòng người và cứu vớt họ thoát khỏi tội lỗi.
Kể lại truyện thơ "Tiễn dặn người yêu"
Nguyễn Đăng Tường Vy
Lớp:10a8
TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU
Chuyện tình yêu đôi lứa luôn là đề tài bất tận của văn học.Thật vậy, có rất nhiều chuyện tình đẹp đã được dựng nên qua văn học,truyện thơ lời tiễn dặn của dân tôc Thái là một ví dụ tiêu biểu.Truyện kể về những khát vọng hạnh phúc,nỗi đau đớn khi tình yêu bị chia lìa và cuộc đấu tranh quyết liệt của hai người để dành lại tình yêu,đúng với lời ước hẹn :”không lấy đươc nhau thời trẻ,ta sẽ lấy nhau khi ngóa bụa về già.
Mở đầu câu chuyện là chuyện tình của đôi trai gái sinh ra và lớn lên cùng nhau trong bản làng của họ .Họ thân nhau từ thuở ấu thơ.Họ đã có cùng nhau nhiều kỉ niệm từ khi còn “bé dại thơ ngây” cùng nhau đào đất san nền,cưỡi bông lau phi ngựa.
Những kỉ niệm tuổi thơ ấy lớn lên cùng họ và tình yêu của học dành cho nhau cũng ngày một lớn lên.Họ yêu nhau tha thiết, tưởng chừng không gì có thể ngăn cản được mối tình của họ. Đã thương nhau thì quyết cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Chàng trai hăm hở sắm lễ vật đến nhà người yêu để xin được làm rể. Nhưng cha mẹ nàng đã từ chối vì chê chàng trai nghèo khổ. Cha mẹ nàng nhận lời một gã con trai ở vùng xa đến ở rể, vì tưởng gã là con nhà giàu. Lúc đó, nàng đi nương chưa về, khi nàng biết thì mọi sự đã rồi. Nàng đã cầu cứu mọi người trong gia đình nhưng không ai ủng hộ nàng mà khuyên rằng phận gái phải theo cha mẹ sắp đặt.Vì thuận theo chu hiếu mà nàng nhắm mắt nhận người mẹ cha ép gả về ở “rể” trong tâm trạng vô cùng đau khổ, nhưng vẫn nuôi một hy vọng mong manh, chàng trai sẽ có cách thay đổi số phận.
Chàng trai rất đau khổ và thất vọng. Buồn thay cho số phận nghèo khó của mình. Chàng quyết ra đi làm ăn xa, với một niềm hy vọng sẽ kiếm đủ tiền để chuộc nàng về. Nhưng đi làm ăn xa đâu có dễ dàng, chàng đã đi đến cùng trời cuối đất, vượt qua bao đèo cao suối sâu, nhớ thương nàng khóc sưng húp mắt...
Thời gian trôi đi, đã hết thời hạn ở rể, đến lúc nàng phải về nhà chồng mà chàng trai vẫn nơi cuối trời xa thẳm. Nàng đã khéo léo tìm cách kéo dài thời gian để chờ chàng về, nhưng một năm nữa trôi qua vẫn chẳng thấy chàng đâu. Cuối cùng nàng đành đưa chân làm theo ý mẹ cha đi đến nhà chồng… Kiếm được khá nhiều tiền chàng mới quay về.
Nhưng than ôi, ngày chàng về đến nhà cũng chính là ngày nàng bước chân sang nhà chồng, có bạc nghìn bạc vạn cũng không thể chuộc lại được nữa rồi. Chàng trai không quản nguy hiểm chạy theo người yêu, cuộc tiễn dặn của đôi bạn tình khi đau đớn tột cùng, lúc đầy phấn khích. Những lời tiễn dặn của chàng trai trên đường đưa cô gái về nhà chồng là đoạn thơ để laị cho ta nhiều cảm xúc nhất.Cô gái thì chờ đợi ngoái trông ngoảnh lại sánh cùng với hình ảnh ớt ,cà, lá ngón đả giúp ta liên tưởng đến vị cay, đắng , cái chết đã chứng tỏ được rằng cô gái có tình cảm rất sâu nặng với chàng trai.Còn về phần mình qua những hình ảnh ẩn dụ tác giả dân gian đã bày tỏ được tấm chân tình của chàng trai qua những lời dặn dò cô gái.Trong những lời dặn dò của mình chàng trai bày tỏ mong muốn được ở bên cạnh người. yêu , cho dù sau này cô gai đã có con thì chàng trai vẫn muốn được ở bên cạnh chăm sóc cho người yêu của mình cùng cô chia sẻ những ngọt bùi đắng cay trong cuộc sống.Rồi nàng bị chồng hắt hủi, đánh đập, chàng vẫn ở lại để an ủi, chăm sóc. Họ vẫn son sắt thề nguyền: “Không lấy được nhau mùa hạ, ta sẽ lấy nhau mùa đông. Không lấy được nhau thời trẻ, ta sẽ lấy nhau khi góa bụa về già”. Rồi nàng bị nhà chồng đối xử thậm tệ, “Khi chưa lấy nhau thì vồ vập. Khi chưa đón về thì xun xoe. Khi đã là dâu thì đuổi dâu xuống sàn ăn cám”, rồi nàng còn bị chồng đánh đập, cuối cùng bị nhà chồng trả về nhà cha mẹ đẻ. Về nhà được mấy ngày, nàng lại bị gả cho một người khác. Vì nàng đã có một người chồng nên lần này người lấy ngàng sẽ không phai ở rể nữa.
Về đến nhà chồng vì thương nhớ người yêu cũ, nàng đã cố tình làm những việc quái gở trong nhà để mọi người khinh ghét. Chồng nàng không chịu nổi liền đem nàng ra chợ bán. Đem qua bao nhiêu chợ cũng chẳng ai mua, cuối cùng thì đã đổi được một cuộn lá dong từ chính tay người yêu cũ. Thời gian, sự khổ đau, những bất hạnh trong cuộc đời đã làm nàng thay đổi nhiều về vóc dáng và nhan sắc, khiến chàng không còn nhận ra nàng nữa, nên đem về làm người ở... Nàng thấy buồn chán quá mới đem chiếc đàn môi chàng tặng trước khi đi làm ăn xa ra gẩy. Lúc này chàng mới nhận ra người yêu từ thuở thiếu thời, trong lòng vô cùng sung sướng. Tình yêu giữa họ lại đâm chồi nẩy nụ sau bao năm xa cách, đau đớn và tủi nhục. Họ trở thành vợ chồng và nguyện sống bên nhau đến đầu bạc răng long. Vợ cũ của chàng cũng chấp nhận tình yêu của họ và tình nguyện ra ở riêng nhường hạnh phúc cho đôi vợ chồng mới.
Em yêu thích tác phẩm này vì nó đã tiếp thu những tinh hoa của văn học dân gian của dân tộc Thái mà đặc biệt là dân ca Thái, được nhiều thế hệ trau chuốt, bổ sung, nên chất thơ trong truyện với ngôn ngữ nghệ thuật dân gian điêu luyện, uyên bác thấm đượm tình người, tạo nên một bản sắc riêng, làm cho tác phẩm sống mãi trong tâm hồn mọi thế hệ người Thái Tây Bắc.Những câu hát mà ngày nay, trong các các cuộc vui như đám cưới xin, mừng nhà mới hay ngày lễ tết, người Thái tổ chức hát đối đáp hoặc giao duyên trai gái hầu hết là sử dụng các câu hát trong Xống chụ xon xao đã cho ta thấy tác phẩm linh hồn của tác phẩm dù có trải qua bao thời gian vẩn được đón nhận và nó còn ngày một phát triền mạnh mẽ. Họ đã khôn khéo lựa chọn từng câu, từng đoạn để sử dụng vào nội dung bài hát cho đúng ý của mình.Những hình ảnh thơ tuy giản dị nhưng lại mang một nét đặc sắc riêng sánh với những biện pháp nghệ thuật ẩn dụ, so sánh, điệp từ đã làm cho tác phẩm thu hút được người đọc. Hơn thế nữa truyện thơ Xống chụ xon xao là một kiệt tác nghệ thuật dân gian có giá trị nhân đạo sâu sắc, là truyện thơ hay nhất trong kho tàng truyện thơ của các dân tộc ít người, một tác phẩm lớn trong nền văn học Việt Nam.
Qua câu chuyện về những song gió của đôi trai gái trong hành trình tìm lại hanh phúc của mình ta thấy được chỉ cần cố gắng thực hiện, kiên nhẫn chờ đợi thì không chỉ có thể tìm được tinh yêu của mình mà việc gì cũng có thể thực hiên đươc.Tiễn dặn người yêu là một tác phẩm hay đại diện cho nền văn học dân gian vì thề nò đã đang và sẽ mãi được mọi người đón nhận hơn nữa.
Lớp:10a8
TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU
Chuyện tình yêu đôi lứa luôn là đề tài bất tận của văn học.Thật vậy, có rất nhiều chuyện tình đẹp đã được dựng nên qua văn học,truyện thơ lời tiễn dặn của dân tôc Thái là một ví dụ tiêu biểu.Truyện kể về những khát vọng hạnh phúc,nỗi đau đớn khi tình yêu bị chia lìa và cuộc đấu tranh quyết liệt của hai người để dành lại tình yêu,đúng với lời ước hẹn :”không lấy đươc nhau thời trẻ,ta sẽ lấy nhau khi ngóa bụa về già.
Mở đầu câu chuyện là chuyện tình của đôi trai gái sinh ra và lớn lên cùng nhau trong bản làng của họ .Họ thân nhau từ thuở ấu thơ.Họ đã có cùng nhau nhiều kỉ niệm từ khi còn “bé dại thơ ngây” cùng nhau đào đất san nền,cưỡi bông lau phi ngựa.
Những kỉ niệm tuổi thơ ấy lớn lên cùng họ và tình yêu của học dành cho nhau cũng ngày một lớn lên.Họ yêu nhau tha thiết, tưởng chừng không gì có thể ngăn cản được mối tình của họ. Đã thương nhau thì quyết cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Chàng trai hăm hở sắm lễ vật đến nhà người yêu để xin được làm rể. Nhưng cha mẹ nàng đã từ chối vì chê chàng trai nghèo khổ. Cha mẹ nàng nhận lời một gã con trai ở vùng xa đến ở rể, vì tưởng gã là con nhà giàu. Lúc đó, nàng đi nương chưa về, khi nàng biết thì mọi sự đã rồi. Nàng đã cầu cứu mọi người trong gia đình nhưng không ai ủng hộ nàng mà khuyên rằng phận gái phải theo cha mẹ sắp đặt.Vì thuận theo chu hiếu mà nàng nhắm mắt nhận người mẹ cha ép gả về ở “rể” trong tâm trạng vô cùng đau khổ, nhưng vẫn nuôi một hy vọng mong manh, chàng trai sẽ có cách thay đổi số phận.
Chàng trai rất đau khổ và thất vọng. Buồn thay cho số phận nghèo khó của mình. Chàng quyết ra đi làm ăn xa, với một niềm hy vọng sẽ kiếm đủ tiền để chuộc nàng về. Nhưng đi làm ăn xa đâu có dễ dàng, chàng đã đi đến cùng trời cuối đất, vượt qua bao đèo cao suối sâu, nhớ thương nàng khóc sưng húp mắt...
Thời gian trôi đi, đã hết thời hạn ở rể, đến lúc nàng phải về nhà chồng mà chàng trai vẫn nơi cuối trời xa thẳm. Nàng đã khéo léo tìm cách kéo dài thời gian để chờ chàng về, nhưng một năm nữa trôi qua vẫn chẳng thấy chàng đâu. Cuối cùng nàng đành đưa chân làm theo ý mẹ cha đi đến nhà chồng… Kiếm được khá nhiều tiền chàng mới quay về.
Nhưng than ôi, ngày chàng về đến nhà cũng chính là ngày nàng bước chân sang nhà chồng, có bạc nghìn bạc vạn cũng không thể chuộc lại được nữa rồi. Chàng trai không quản nguy hiểm chạy theo người yêu, cuộc tiễn dặn của đôi bạn tình khi đau đớn tột cùng, lúc đầy phấn khích. Những lời tiễn dặn của chàng trai trên đường đưa cô gái về nhà chồng là đoạn thơ để laị cho ta nhiều cảm xúc nhất.Cô gái thì chờ đợi ngoái trông ngoảnh lại sánh cùng với hình ảnh ớt ,cà, lá ngón đả giúp ta liên tưởng đến vị cay, đắng , cái chết đã chứng tỏ được rằng cô gái có tình cảm rất sâu nặng với chàng trai.Còn về phần mình qua những hình ảnh ẩn dụ tác giả dân gian đã bày tỏ được tấm chân tình của chàng trai qua những lời dặn dò cô gái.Trong những lời dặn dò của mình chàng trai bày tỏ mong muốn được ở bên cạnh người. yêu , cho dù sau này cô gai đã có con thì chàng trai vẫn muốn được ở bên cạnh chăm sóc cho người yêu của mình cùng cô chia sẻ những ngọt bùi đắng cay trong cuộc sống.Rồi nàng bị chồng hắt hủi, đánh đập, chàng vẫn ở lại để an ủi, chăm sóc. Họ vẫn son sắt thề nguyền: “Không lấy được nhau mùa hạ, ta sẽ lấy nhau mùa đông. Không lấy được nhau thời trẻ, ta sẽ lấy nhau khi góa bụa về già”. Rồi nàng bị nhà chồng đối xử thậm tệ, “Khi chưa lấy nhau thì vồ vập. Khi chưa đón về thì xun xoe. Khi đã là dâu thì đuổi dâu xuống sàn ăn cám”, rồi nàng còn bị chồng đánh đập, cuối cùng bị nhà chồng trả về nhà cha mẹ đẻ. Về nhà được mấy ngày, nàng lại bị gả cho một người khác. Vì nàng đã có một người chồng nên lần này người lấy ngàng sẽ không phai ở rể nữa.
Về đến nhà chồng vì thương nhớ người yêu cũ, nàng đã cố tình làm những việc quái gở trong nhà để mọi người khinh ghét. Chồng nàng không chịu nổi liền đem nàng ra chợ bán. Đem qua bao nhiêu chợ cũng chẳng ai mua, cuối cùng thì đã đổi được một cuộn lá dong từ chính tay người yêu cũ. Thời gian, sự khổ đau, những bất hạnh trong cuộc đời đã làm nàng thay đổi nhiều về vóc dáng và nhan sắc, khiến chàng không còn nhận ra nàng nữa, nên đem về làm người ở... Nàng thấy buồn chán quá mới đem chiếc đàn môi chàng tặng trước khi đi làm ăn xa ra gẩy. Lúc này chàng mới nhận ra người yêu từ thuở thiếu thời, trong lòng vô cùng sung sướng. Tình yêu giữa họ lại đâm chồi nẩy nụ sau bao năm xa cách, đau đớn và tủi nhục. Họ trở thành vợ chồng và nguyện sống bên nhau đến đầu bạc răng long. Vợ cũ của chàng cũng chấp nhận tình yêu của họ và tình nguyện ra ở riêng nhường hạnh phúc cho đôi vợ chồng mới.
Em yêu thích tác phẩm này vì nó đã tiếp thu những tinh hoa của văn học dân gian của dân tộc Thái mà đặc biệt là dân ca Thái, được nhiều thế hệ trau chuốt, bổ sung, nên chất thơ trong truyện với ngôn ngữ nghệ thuật dân gian điêu luyện, uyên bác thấm đượm tình người, tạo nên một bản sắc riêng, làm cho tác phẩm sống mãi trong tâm hồn mọi thế hệ người Thái Tây Bắc.Những câu hát mà ngày nay, trong các các cuộc vui như đám cưới xin, mừng nhà mới hay ngày lễ tết, người Thái tổ chức hát đối đáp hoặc giao duyên trai gái hầu hết là sử dụng các câu hát trong Xống chụ xon xao đã cho ta thấy tác phẩm linh hồn của tác phẩm dù có trải qua bao thời gian vẩn được đón nhận và nó còn ngày một phát triền mạnh mẽ. Họ đã khôn khéo lựa chọn từng câu, từng đoạn để sử dụng vào nội dung bài hát cho đúng ý của mình.Những hình ảnh thơ tuy giản dị nhưng lại mang một nét đặc sắc riêng sánh với những biện pháp nghệ thuật ẩn dụ, so sánh, điệp từ đã làm cho tác phẩm thu hút được người đọc. Hơn thế nữa truyện thơ Xống chụ xon xao là một kiệt tác nghệ thuật dân gian có giá trị nhân đạo sâu sắc, là truyện thơ hay nhất trong kho tàng truyện thơ của các dân tộc ít người, một tác phẩm lớn trong nền văn học Việt Nam.
Qua câu chuyện về những song gió của đôi trai gái trong hành trình tìm lại hanh phúc của mình ta thấy được chỉ cần cố gắng thực hiện, kiên nhẫn chờ đợi thì không chỉ có thể tìm được tinh yêu của mình mà việc gì cũng có thể thực hiên đươc.Tiễn dặn người yêu là một tác phẩm hay đại diện cho nền văn học dân gian vì thề nò đã đang và sẽ mãi được mọi người đón nhận hơn nữa.
Kể lại truyện "ADV và MC-TT"
Hãy kể lại chuyện “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy”
Bài làm
Trong kho tang văn học của Việt Nam, em thích nhất là câu chuyện “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” vì đó là một trong những câu chuyện tiêu biểu cho thể loại truyền thuyết. Truyện khái quát để chúng ta hiểu thêm về việc An Dương vương xây thành và chế tạo nỏ thần cũng như giúp chúng ta hiểu thêm về mối tình bi kịch giữa Mị Châu -Trọng Thủy và nguyên nhân mất nước Âu Lạc của An Dương Vương.
An Dương Vương là vua nước Âu Lạc. Khi vua xây thành, hễ đắp tới đâu lại lỡ tới đấy nên vua bèn lập đàn trai giới cầu thần. Đến ngày mồng bảy tháng ba, bỗng thấy có một cụ già từ phương đông tới, vua lập tức mời vào và hỏi chuyện. Cụ già nói rằng sẽ có sứ Thanh Giang tới giúp nhà vua xây thành rồi ra về. Ngày hôm sau, có một con Rùa Vàng từ phương đông lại và tự xưng là sứ Thanh Giang đến giúp vua. Nhờ sự giúp đỡ của Rùa Vàng mà chỉ trong vòng nửa tháng, thành đã được xây xong. Thành có hình trôn ốc nên được gọi là Loa thành. Sau ba năm, Rùa Vàng từ biệt ra về. An Dương Vương suy nghĩ về việc giữ nước nên đã hỏi ý kiến của Rùa Vàng. Rùa Vàng bèn trao cho nhà vua móng vuốt của mình và dặn vua hãy lấy đó làm lẫy nỏ.
Một thời gian sau, Triệu Đà đem quân sang xâm lược, vua bèn lấy nỏ thần ra bắn. Quân của Triệu Đà thua to, bèn cầu hòa. Chính nhờ yếu tố thần kì về Rùa Vàng đã giúp An Dương Vương đạt được ý nguyện chính đáng mà cũng phù hợp với ý nguyện của nhân dân, của trời đất.
Chẳng bao lâu sau, Triệu Đà cầu hôn. An Dương Vương gả con gái của mình là Mị Châu cho con trai của Đà là Trọng Thủy. Trọng Thủy lừa Mị Châu cho coi lẫy rời làm một cái khác thay thế cho vuốt Rùa Vàng. Trọng Thủy nói dối Mị Châu để chạy về phương Bắc. Sau khi có được nỏ thần, Triệu Đà đem quân sang xâm chiếm. An Dương Vương chủ quan nên đã bị thất bại. Ta thấy được bi kịch mất nước Âu Lạc là do sự chủ quan của An Dương Vương và Mị Châu. An Dương Vương làm mất nước do chủ quan, khinh địch, mất cảnh giác với kẻ thù. Mị Châu đã mất cảnh giác khi cho Trọng Thủy xem nỏ thần. Mị Châu đã đặt chữ tình, đặt nặng trách nhiệm của một người vợ lên trên quốc gia, dân tộc. Lời kết tội của Rùa Vàng:”Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó” đại diện cho công lí, đứng trên quyền lợi của nhân dân, tổ quốc để phán xét hành động vô tình phản quốc của Mị Châu. Khi chém chết Mị Châu, An Dương Vương đã đứng vào quyền lợi của quốc gia, tổ quốc để phán xét Mị Châu.Từ việc mất nước Âu Lạc, ta rút ra được bài học là cần phải biết xử lí đúng đắn mối quan hệ chung va riêng, cá nhân và nhà nước. Mị Châu đã không đặc trách nhiệm lên trên tình cảm để rồi gây ra việc mất nước.
Sau khi giết chết Mị Nương, An Dương Vương đã cầm sừng tê bảy tất rẽ nước theo Rùa Vàng đi xuống biển. Sự việc này chứng tỏ rằng An Dương Vương không chết trong lòng của nhân dân, có được sự tôn trọng, ủng hộ của nhân dân.
Trọng Thủy sau khi chiếm được nước Âu Lạc đã lần theo dấu lông ngỗng mà Mị Châu đã rắc từ trước. Khi đến nơi quân Đà không thấy bóng dáng gì trừ xác của Mị Châu. Trọng Thủy thương tiếc Mị Châu vô cùng để rồi một lần tưởng thấy bong giáng Mị Châu dưới giếng nên lao đầu xuống dưới mà chết. Người đời sau cho rằng khi lấy ngọc ở biển Đông mà rửa tại giếng này thì ngọc sẽ sang thêm. Chi tiết này cho chúng ta thấy được cái nhìn bao dung của nhân dân.
Thông qua hình tượng nhân vật và những chi tiết hư cấu trong truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu-Trọng Thủy” nhân dân ta đã giải thích nguyên nhân mất nước Âu Lạc. Qua đó nhân dân ta muốn nên lên bài học lịch sử về tinh thần cảnh giác với kẻ thù và cách xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa riêng và chung, giữa nhà với nước, giữa cá nhân với cộng đồng.
Bài làm
Trong kho tang văn học của Việt Nam, em thích nhất là câu chuyện “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” vì đó là một trong những câu chuyện tiêu biểu cho thể loại truyền thuyết. Truyện khái quát để chúng ta hiểu thêm về việc An Dương vương xây thành và chế tạo nỏ thần cũng như giúp chúng ta hiểu thêm về mối tình bi kịch giữa Mị Châu -Trọng Thủy và nguyên nhân mất nước Âu Lạc của An Dương Vương.
An Dương Vương là vua nước Âu Lạc. Khi vua xây thành, hễ đắp tới đâu lại lỡ tới đấy nên vua bèn lập đàn trai giới cầu thần. Đến ngày mồng bảy tháng ba, bỗng thấy có một cụ già từ phương đông tới, vua lập tức mời vào và hỏi chuyện. Cụ già nói rằng sẽ có sứ Thanh Giang tới giúp nhà vua xây thành rồi ra về. Ngày hôm sau, có một con Rùa Vàng từ phương đông lại và tự xưng là sứ Thanh Giang đến giúp vua. Nhờ sự giúp đỡ của Rùa Vàng mà chỉ trong vòng nửa tháng, thành đã được xây xong. Thành có hình trôn ốc nên được gọi là Loa thành. Sau ba năm, Rùa Vàng từ biệt ra về. An Dương Vương suy nghĩ về việc giữ nước nên đã hỏi ý kiến của Rùa Vàng. Rùa Vàng bèn trao cho nhà vua móng vuốt của mình và dặn vua hãy lấy đó làm lẫy nỏ.
Một thời gian sau, Triệu Đà đem quân sang xâm lược, vua bèn lấy nỏ thần ra bắn. Quân của Triệu Đà thua to, bèn cầu hòa. Chính nhờ yếu tố thần kì về Rùa Vàng đã giúp An Dương Vương đạt được ý nguyện chính đáng mà cũng phù hợp với ý nguyện của nhân dân, của trời đất.
Chẳng bao lâu sau, Triệu Đà cầu hôn. An Dương Vương gả con gái của mình là Mị Châu cho con trai của Đà là Trọng Thủy. Trọng Thủy lừa Mị Châu cho coi lẫy rời làm một cái khác thay thế cho vuốt Rùa Vàng. Trọng Thủy nói dối Mị Châu để chạy về phương Bắc. Sau khi có được nỏ thần, Triệu Đà đem quân sang xâm chiếm. An Dương Vương chủ quan nên đã bị thất bại. Ta thấy được bi kịch mất nước Âu Lạc là do sự chủ quan của An Dương Vương và Mị Châu. An Dương Vương làm mất nước do chủ quan, khinh địch, mất cảnh giác với kẻ thù. Mị Châu đã mất cảnh giác khi cho Trọng Thủy xem nỏ thần. Mị Châu đã đặt chữ tình, đặt nặng trách nhiệm của một người vợ lên trên quốc gia, dân tộc. Lời kết tội của Rùa Vàng:”Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó” đại diện cho công lí, đứng trên quyền lợi của nhân dân, tổ quốc để phán xét hành động vô tình phản quốc của Mị Châu. Khi chém chết Mị Châu, An Dương Vương đã đứng vào quyền lợi của quốc gia, tổ quốc để phán xét Mị Châu.Từ việc mất nước Âu Lạc, ta rút ra được bài học là cần phải biết xử lí đúng đắn mối quan hệ chung va riêng, cá nhân và nhà nước. Mị Châu đã không đặc trách nhiệm lên trên tình cảm để rồi gây ra việc mất nước.
Sau khi giết chết Mị Nương, An Dương Vương đã cầm sừng tê bảy tất rẽ nước theo Rùa Vàng đi xuống biển. Sự việc này chứng tỏ rằng An Dương Vương không chết trong lòng của nhân dân, có được sự tôn trọng, ủng hộ của nhân dân.
Trọng Thủy sau khi chiếm được nước Âu Lạc đã lần theo dấu lông ngỗng mà Mị Châu đã rắc từ trước. Khi đến nơi quân Đà không thấy bóng dáng gì trừ xác của Mị Châu. Trọng Thủy thương tiếc Mị Châu vô cùng để rồi một lần tưởng thấy bong giáng Mị Châu dưới giếng nên lao đầu xuống dưới mà chết. Người đời sau cho rằng khi lấy ngọc ở biển Đông mà rửa tại giếng này thì ngọc sẽ sang thêm. Chi tiết này cho chúng ta thấy được cái nhìn bao dung của nhân dân.
Thông qua hình tượng nhân vật và những chi tiết hư cấu trong truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu-Trọng Thủy” nhân dân ta đã giải thích nguyên nhân mất nước Âu Lạc. Qua đó nhân dân ta muốn nên lên bài học lịch sử về tinh thần cảnh giác với kẻ thù và cách xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa riêng và chung, giữa nhà với nước, giữa cá nhân với cộng đồng.
14 thg 9, 2009
Nội dung KTC đợt 1 09-10
I.Kiến thức VH
1.VHDGVN
II. Tóm tắt
1.Truyền thuyết "ADV và MC-TT"
2.Sử thi "Đăm San" của dân tộc Ê đê
3.Sử thi "Ulixơ" của Homerơ
4.Truyện cổ tích "Tấm Cám"
III.Văn tự sự :Kể lại
1.ĐT "Chiến thắng Mtao Mxây"
2.ĐT "Ulixơ trở về"
3.ĐT "Rama buộc tội"
4.Truyền thuyết "ADV và MC-TT"
5.Cổ tích "Tấm Cám"
1.VHDGVN
II. Tóm tắt
1.Truyền thuyết "ADV và MC-TT"
2.Sử thi "Đăm San" của dân tộc Ê đê
3.Sử thi "Ulixơ" của Homerơ
4.Truyện cổ tích "Tấm Cám"
III.Văn tự sự :Kể lại
1.ĐT "Chiến thắng Mtao Mxây"
2.ĐT "Ulixơ trở về"
3.ĐT "Rama buộc tội"
4.Truyền thuyết "ADV và MC-TT"
5.Cổ tích "Tấm Cám"
Các từ liên quan:
5.KT chung,
6.Lý thuyết,
ADV-MC-TT,
Đamsan,
Rama,
Tấm Cám,
Tóm tắt,
Ulixơ,
Văn tự sự
12 thg 9, 2009
Chuẩn bị KTC đợt 1 09-10 - Tóm tắt
Tóm tắt:
1.Truyền thuyết "ADV và MC-TT"
2.Sử thi "Đăm San" của dân tộc Ê đê
3.Sử thi "Ulixơ" của Homerơ (
4."Truyện Tấm Cám"
1.Truyền thuyết "ADV và MC-TT"
2.Sử thi "Đăm San" của dân tộc Ê đê
3.Sử thi "Ulixơ" của Homerơ (
4."Truyện Tấm Cám"
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

