- Cáo là thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết
- Trong thể cáo, có loại văn cáo thường ngày như chiếu sách của vua truyền xuống về một vấn đề nào đó, có loại văn đại cáo mang ý nghĩa một sự kiện trọng đại, có tính chất quốc gia.
- Cáo có thể được viết bằng văn xuôi hay văn vần nhưng phần nhiều được viết bằng văn biền ngẫu, không có vần hoặc có vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai vế đối nhau
- Cáo là thể văn hùng biện, do đó lời lẽ phải đanh thép, lí luận phải sắc bén, kết cấu phải chặt chẽ, mạch lạc. Tác phẩm tiêu biểu: "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi
Hiển thị các bài đăng có nhãn 6.Lý thuyết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 6.Lý thuyết. Hiển thị tất cả bài đăng
19 thg 1, 2011
9 thg 4, 2010
Câu hỏi về "Truyện Kiều"
5/ Nêu vài nét về sự sáng tạo của Nguyễn Du khi viết Truyện Kiều:
Nguyễn Du viết Truyện Kiều dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Trên cơ sở cốt truyện, nhân vật có sẵn, Nguyễn Du đã có những sáng tạo lớn về nhiều mặt.
+ Về nội dung, ông đã biến một câu chuyện “tình khổ” thành khúc ca đau lòng thương người bạc mệnh, tác phẩm nói lên “những điều trông thấy” trong giai đoạn lịch sử biến động cuối Lê – đầu Nguyễn.
+ Về nghệ thuật, Nguyễn Du đã dụng công lược bỏ các chi tiết về mưu mẹo, sự báo oán tàn nhẫn và một số chi tiết dung tục trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân.
- Ông còn thay đổi thứ tự kể và sáng tạo thêm một số chi tiết để tạo ra thế giới nhân vật sống động như thật.
- Ngoài ra, ông còn biến những sự kiện chính của tác phẩm thành đối tượng để bộc lộ cảm xúc, tình cảm của nhân vật và người kể.
- Bên cạnh đó, việc chuyển trọng tâm của truyện từ kể sang biểu hiện nội tâm càng làm cho các nhân vật sống động và sâu sắc hơn.
+ Về thể loại, Nguyễn Du đã kế thừa các truyền thống nghệ thuật của truyện Nôm, ngâm khúc, thơ trữ tình và ca dao để sáng tạo ra một truyện thơ giàu chất tiểu thuyết và ngôn ngữ.
Có thể nói, Truyện Kiều là kết tinh rực rỡ của văn học Việt Nam, là niềm tự hào không bao giờ vơi cạn của ngôn ngữ văn học Tiếng Việt đồng thời trở thành một di sản to lớn của văn học nhân loại.
6/ Nêu vài nét về giá trị nội dung của Truyện Kiều:
Trong văn học trung đại Việt Nam, Truyện Kiều là tác phẩm có giá trị hiện thực, thể hiện một tư tưởng nhân đạo sâu sắc, giàu tính chiến đấu.
+ Truyện Kiều là bài ca về tình yêu tự do và ước mơ công lí
+ Truyện Kiều là tiếng khóc đứt ruột cho số phận con người.
+ Tác phẩm còn là bản cáo trạng đanh thép đối với các thế lực đen tối chà đạp lên quyền lợi chính đáng của con người.
+ Truyện Kiều là tiếng nói “hiểu đời”, hiểu người.
Qua Truyện Kiều, Nguyễn Du đã thể hiện thái độ quyết liệt của ông đối với hiện thực và thời đại đồng thời cho thấy được nét cao đẹp trong tâm hồn của một nhà thơ nhân đạo.
7/ Nêu vài nét về giá trị nghệ thuật của Truyện Kiều:
Truyện Kiều là kết tinh của tài năng bậc thầy và truyền thống văn học dân tộc, là đỉnh cao chói lọi của thể loại truyện Nôm.
+ Nghệ thuật tiêu biểu trong Truyện Kiều là xây dựng nhân vật sống động, có tính điển hình cao.
+ Truyện Kiều là mẫu mực của nghệ thuật tự sự và trữ tình bằng thơ lục bát.
+ Tiếng Việt trong Truyện Kiều là một ngôn ngữ trong sáng, trau chuốt, giàu sức biểu cảm, sáng tạo.
Qua Truyện Kiều, Nguyễn Du đã làm cho tiếng Việt văn học đạt đến trình độ cổ điển, tạo thành giá trị văn chương bất hủ muôn đời.
Nguyễn Du viết Truyện Kiều dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Trên cơ sở cốt truyện, nhân vật có sẵn, Nguyễn Du đã có những sáng tạo lớn về nhiều mặt.
+ Về nội dung, ông đã biến một câu chuyện “tình khổ” thành khúc ca đau lòng thương người bạc mệnh, tác phẩm nói lên “những điều trông thấy” trong giai đoạn lịch sử biến động cuối Lê – đầu Nguyễn.
+ Về nghệ thuật, Nguyễn Du đã dụng công lược bỏ các chi tiết về mưu mẹo, sự báo oán tàn nhẫn và một số chi tiết dung tục trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân.
- Ông còn thay đổi thứ tự kể và sáng tạo thêm một số chi tiết để tạo ra thế giới nhân vật sống động như thật.
- Ngoài ra, ông còn biến những sự kiện chính của tác phẩm thành đối tượng để bộc lộ cảm xúc, tình cảm của nhân vật và người kể.
- Bên cạnh đó, việc chuyển trọng tâm của truyện từ kể sang biểu hiện nội tâm càng làm cho các nhân vật sống động và sâu sắc hơn.
+ Về thể loại, Nguyễn Du đã kế thừa các truyền thống nghệ thuật của truyện Nôm, ngâm khúc, thơ trữ tình và ca dao để sáng tạo ra một truyện thơ giàu chất tiểu thuyết và ngôn ngữ.
Có thể nói, Truyện Kiều là kết tinh rực rỡ của văn học Việt Nam, là niềm tự hào không bao giờ vơi cạn của ngôn ngữ văn học Tiếng Việt đồng thời trở thành một di sản to lớn của văn học nhân loại.
6/ Nêu vài nét về giá trị nội dung của Truyện Kiều:
Trong văn học trung đại Việt Nam, Truyện Kiều là tác phẩm có giá trị hiện thực, thể hiện một tư tưởng nhân đạo sâu sắc, giàu tính chiến đấu.
+ Truyện Kiều là bài ca về tình yêu tự do và ước mơ công lí
+ Truyện Kiều là tiếng khóc đứt ruột cho số phận con người.
+ Tác phẩm còn là bản cáo trạng đanh thép đối với các thế lực đen tối chà đạp lên quyền lợi chính đáng của con người.
+ Truyện Kiều là tiếng nói “hiểu đời”, hiểu người.
Qua Truyện Kiều, Nguyễn Du đã thể hiện thái độ quyết liệt của ông đối với hiện thực và thời đại đồng thời cho thấy được nét cao đẹp trong tâm hồn của một nhà thơ nhân đạo.
7/ Nêu vài nét về giá trị nghệ thuật của Truyện Kiều:
Truyện Kiều là kết tinh của tài năng bậc thầy và truyền thống văn học dân tộc, là đỉnh cao chói lọi của thể loại truyện Nôm.
+ Nghệ thuật tiêu biểu trong Truyện Kiều là xây dựng nhân vật sống động, có tính điển hình cao.
+ Truyện Kiều là mẫu mực của nghệ thuật tự sự và trữ tình bằng thơ lục bát.
+ Tiếng Việt trong Truyện Kiều là một ngôn ngữ trong sáng, trau chuốt, giàu sức biểu cảm, sáng tạo.
Qua Truyện Kiều, Nguyễn Du đã làm cho tiếng Việt văn học đạt đến trình độ cổ điển, tạo thành giá trị văn chương bất hủ muôn đời.
Các từ liên quan:
6.Lý thuyết,
Thi HK2,
Truyện Kiều,
Văn Thuyết minh
Câu hỏi về Nguyễn Du
1/ Nêu sơ lược về tiểu sử cuộc đời Nguyễn Du:• Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên (1765 – 1820), quê ở tỉnh Hà Tĩnh.
• Ông xuất thân trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan, có truyền thống văn học.
• Nguyễn Du sống trong thời đại đầy biến động dữ dội.
• Nguyễn Du đã sống một cuộc đời bi kịch. Xuất thân trong gia đình giàu sang nhưng cuộc sống lại lưu lạc, tha hương. Bi kịch lớn nhất của ông là phải chấp nhận cuộc đời triền miên buồn chán, không có một hoạt động say sưa và nhất quán vì lí tưởng nào cả.
• Nói chung, Nguyễn Du nhìn đời với con mắt của một người đứng giữa dông tố cuộc đời và điều đó khiến tác phẩm của ông hàm chứa một chiều sâu hiện thực và nhân đạo chưa từng có trong thơ văn Việt Nam.
2/ Nêu sơ lược về các tác phẩm chính của Nguyễn Du:
Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, ông đã để lại nhiều thành tựu kiệt xuất về văn chương:
+ Về thơ chữ Hán, Nguyễn du có ba tập thơ: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục.
+ Về thơ chữ Nôm, ông có hai kiệt tác Truyện Kiều và Văn tế thập loại chúng sinh.
Nói chung, các tác phẩm của Nguyễn Du đều rất đặc sắc, ở thể loại nào ông cũng đạt được sự hoàn thiện ở trình độ cổ điển.
3/ Nêu sơ lược về đặc điểm nội dung tác phẩm của Nguyễn Du:• Nguyễn Du là nhà thơ có khuynh hướng hiện thực sâu sắc.
+ Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là nhật kí đời sống, nhật kí tâm hồn, phản ánh chân thực hiện thực cuộc sống.
+ Nhà thơ còn bày tỏ thái độ mỉa mai và lên án xã hội bất công, đen tối.
• Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo vĩ đại.
+ Toàn bộ sáng tác của ông là sự quan tâm sâu sắc tới thân phận con người, đặc biệt là những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh.
+ Đặc biệt, chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du lấy sự khẳng định cuộc sống hạnh phúc trần gian làm nền tảng, đề cao quyền được yêu, được sống của con người, tình thương và lòng đồng cảm của ông đã bao trùm hết mọi kiếp người.
+ Ông còn hết lòng ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người.
Có thể nói, Nguyễn Du đã vượt qua những ràng buộc của ý thức hệ phong kiếnvà tôn giáo để vươn tới khẳng định giá trị tự thân của con người. Đó là tư tưởng sâu sắc nhất mà nhà thơ đem lại cho văn học Việt Nam trong thời của ông.
4/ Nêu sơ lược về đặc điểm nghệ thuật tác phẩm Nguyễn Du:
Về nghệ thuật, ông là người kết tinh những thành tựu văn học chữ Hán và chữ Nôm của dân tộc.
+ Thơ chữ Hán thể hiện những suy nghĩ sâu sắc của ông về thời đại, giản dị mà tinh luyện, tài hoa, xứng đáng là tác phẩm của một cây đại bút.
+ Về thơ Nôm, Nguyễn Du sử dụng tài tình hai thể thơ dân tộc lục bát và song thất lục bát. Ông đã làm mới ngôn ngữ văn học Tiếng Việt.
+ Trong nghệ thuật tự sự, Nguyễn Du đã tổng hợp cá thể loại văn học trước đó, đổi mới thể loại truyện Nôm, nâng tác phẩm lên hàng tiểu thuyết bằng thơ, làm tăng cường chất thơ cho tự sự.
Nói tóm lại, hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Du đều mang những nét nghệ thuật rất đặc sắc, ông xứng đáng là nhà thơ vị trí hàng đầu của nền văn học trung đại Việt Nam.
• Ông xuất thân trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan, có truyền thống văn học.
• Nguyễn Du sống trong thời đại đầy biến động dữ dội.
• Nguyễn Du đã sống một cuộc đời bi kịch. Xuất thân trong gia đình giàu sang nhưng cuộc sống lại lưu lạc, tha hương. Bi kịch lớn nhất của ông là phải chấp nhận cuộc đời triền miên buồn chán, không có một hoạt động say sưa và nhất quán vì lí tưởng nào cả.
• Nói chung, Nguyễn Du nhìn đời với con mắt của một người đứng giữa dông tố cuộc đời và điều đó khiến tác phẩm của ông hàm chứa một chiều sâu hiện thực và nhân đạo chưa từng có trong thơ văn Việt Nam.
2/ Nêu sơ lược về các tác phẩm chính của Nguyễn Du:
Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, ông đã để lại nhiều thành tựu kiệt xuất về văn chương:
+ Về thơ chữ Hán, Nguyễn du có ba tập thơ: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục.
+ Về thơ chữ Nôm, ông có hai kiệt tác Truyện Kiều và Văn tế thập loại chúng sinh.
Nói chung, các tác phẩm của Nguyễn Du đều rất đặc sắc, ở thể loại nào ông cũng đạt được sự hoàn thiện ở trình độ cổ điển.
3/ Nêu sơ lược về đặc điểm nội dung tác phẩm của Nguyễn Du:• Nguyễn Du là nhà thơ có khuynh hướng hiện thực sâu sắc.
+ Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là nhật kí đời sống, nhật kí tâm hồn, phản ánh chân thực hiện thực cuộc sống.
+ Nhà thơ còn bày tỏ thái độ mỉa mai và lên án xã hội bất công, đen tối.
• Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo vĩ đại.
+ Toàn bộ sáng tác của ông là sự quan tâm sâu sắc tới thân phận con người, đặc biệt là những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh.
+ Đặc biệt, chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du lấy sự khẳng định cuộc sống hạnh phúc trần gian làm nền tảng, đề cao quyền được yêu, được sống của con người, tình thương và lòng đồng cảm của ông đã bao trùm hết mọi kiếp người.
+ Ông còn hết lòng ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người.
Có thể nói, Nguyễn Du đã vượt qua những ràng buộc của ý thức hệ phong kiếnvà tôn giáo để vươn tới khẳng định giá trị tự thân của con người. Đó là tư tưởng sâu sắc nhất mà nhà thơ đem lại cho văn học Việt Nam trong thời của ông.
4/ Nêu sơ lược về đặc điểm nghệ thuật tác phẩm Nguyễn Du:
Về nghệ thuật, ông là người kết tinh những thành tựu văn học chữ Hán và chữ Nôm của dân tộc.
+ Thơ chữ Hán thể hiện những suy nghĩ sâu sắc của ông về thời đại, giản dị mà tinh luyện, tài hoa, xứng đáng là tác phẩm của một cây đại bút.
+ Về thơ Nôm, Nguyễn Du sử dụng tài tình hai thể thơ dân tộc lục bát và song thất lục bát. Ông đã làm mới ngôn ngữ văn học Tiếng Việt.
+ Trong nghệ thuật tự sự, Nguyễn Du đã tổng hợp cá thể loại văn học trước đó, đổi mới thể loại truyện Nôm, nâng tác phẩm lên hàng tiểu thuyết bằng thơ, làm tăng cường chất thơ cho tự sự.
Nói tóm lại, hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Du đều mang những nét nghệ thuật rất đặc sắc, ông xứng đáng là nhà thơ vị trí hàng đầu của nền văn học trung đại Việt Nam.
Các từ liên quan:
6.Lý thuyết,
Nguyễn Du,
Thi HK2,
Văn Thuyết minh
11 thg 1, 2010
Ôn KTC đợt 3
NỘI DUNG VÀ CẤU TRÚC ĐỀ KIỂM TRA CHUNG ĐỢT 3 2009-2010
Môn Ngữ Văn 10
Ban nâng cao
Thuyết minh về tác giả (2đ) (gợi ý kiến thức tối thiểu cần đạt)
Trương Hán Siêu
Trương Hán Siêu (?-1354) tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh, Ninh Bình.
Ông là môn khách của Trần Hưng Đạo, tham gia kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, làm quan dưới bốn đời vua Trần (Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông). Các vua Trần rất kính trọng Trương Hán Siêu, thường gọi ông là “thầy”.
Do có tài đức nên khi mất ông được thờ ở Văn Miếu (Hà Nội)
Tác phẩm của ông hiện còn lại bốn bài thơ và ba bài văn,trong đó có “ Bạch Đằng giang phú “ là tác phẩm đặc sắc của VH trung đại Việt Nam.
Hoàng Đức Lương
- Hoàng Đức Lương (chưa rõ năm sinh năm mất), người làng Cửu Cao, huyện Văn Giang, nay thuộc tỉnh Hưng yên, sau chuyển đến làng Ngọ Kiều, Gia Lâm, Hà Nội.
- Ông đỗ tiến sĩ năm 1478, Ông sưu tầm, tuyển chọn tác phẩm của các tác giả từ thời Trần đến đầu thời Lê, biên soạn thành Trích diễm thi tập và hoàn thành Trích diễm thi tập năm 1497. Tập thơ gồm 6 quyển, phần cuối là bài tựa trình bày lí do ra đời và quá trình hình thành của cuốn Trích diễm thi tập.
Lí Bạch
Lí Bạch (701 – 762), tự là Thái Bạch, quê ở tỉnh Cam Túc. Ông lớn lên ở Tứ Xuyên, tính tình hào phóng, thích giao lưu bạn bè và ngao du thưởng ngọan phong cảnh.
Năm 25 tuổi LB rời quê hương đi tìm đường thực hiện hoài bão, ước mơ, những mong dân chúng được yên vui, “đất nước thanh bình”. Ông làm việc ở viện hàn lâm, do thất vọng triều đình, chỉ sau ba năm LB đã ra đi tiếp tục cuộc ngao du sơn thủy. Ông mất vì bệnh, để lại trên 1000 bài thơ.
- Ông là một nhà thơ lãng mạn lớn, có nhiều bài thơ nổi tiếng viết về đề tài thiên nhiên, chiến tranh, tình yêu, tình bạn. Âm hưởng chủ đạo trong thơ ông là tiếng nói yêu đời, lạc quan hào phóng dù bên cạnh vẫn còn một số tác phẩm có vài nét tiêu cực như tư tưởng hành lạc, cầu tiên học đạo.
- LB đã có những sáng tạo mới mẻ, táo bạo trong việc xây dựng hình ảnh, tứ thơ cũng như trong việc sử dụng thể thơ và ngôn từ.” Tại lầu Hoàng hạc tiễn Mạch Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” được xem là bài thơ hay nhất trong đề tài tiễn biệt của Ô.
d. Đỗ Phủ
- ĐP (712-770) quê ở huyện Củng, tỉnh Hà Nam, xuất thân trong gia đình có truyền thống nho học và thơ ca lâu đời. Ô là nhà thơ hiện thực lớn nhất không chỉ của thời Đường mà của cả lịch sử thơ ca cổ Trung Quốc. Thơ ông còn được gọi là thi sử.
- Ô bắt đầu làm thơ khi nhà Đường còn phồn vinh, song sáng tác chủ yếu trong và sau cuộc cuộc binh biến An Lộc Sơn lúc đất nước Trung Quốc chìm ngập trong cảnh loạn li. ĐP có làm vài chức quan nhỏ trong một thời gian ngắn. Trong mười một năm cuối đời Ô đưa gia đình đi lánh nạn khắp các vùng thuộc các tỉnh phía tây nam Trung Quốc (Cam Túc, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam)
- Nhà thơ qua đời trong đói rét bệnh tật trên một chiếc thuyền, để lại cho hậu thế khoảng 1500 bài thơ. Năm 1962 hội đồng hòa bình thế giới tổ chức kỉ niệm 1250 năm năm sinh của ông.
- Tp tiêu biểu: Binh xa hành, Lệ nhân hành, Tam biệt, Thu hứng…
Thuyết minh về thể loại văn học: (2đ)
Phú: Phú vốn là thể văn Trung Quốc, thịnh hành vào thời Hán, dùng lối văn có nhịp điệu, nhằm miêu tả, trình bày sự vật để biểu hiện tư tưởng tình cảm của tác giả. Phú có bốn loại chính: cổ phú, bài phú, luật phú và văn phú.
Cổ phú thường dùng hình thức “chủ - khách đối đáp”, không đòi hỏi đối, cuối bài thường được kết lại bằng thơ.
Bài phú là phú dùng hình thức biền văn, câu văn 4 chữ, 6 chữ, 8 chữ sóng đôi với nhau.
Luật phú là phú thời Đường, chú trọng đến đối; vần hạn chế, gò bó.
Văn phú là Phú thời Tống, tương đối tự do có dùng câu văn xuôi.
TPTB: Phú sông Bạch Đằng - Trương Hán Siêu
Phú núi Chí Linh - Nguyễn Trãi
Cáo:
-Là tên gọi thể văn có nguồn gốc từ Trung Quốc cổ xưa. Sau này vua chuyên dùng thể cáo để công bố những việc trọng đại của đất nước với muôn dân.
-Cáo thường được viết bằng văn biền ngẫu. không có vần hoặc có vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai vế đối nhau. Cũng như hịch, cáo là thể văn hùng biện, do đó lời lẽ phải đanh thép, lí luận phải sắc bén, kết cấu phải chặt chẽ, mạch lạc
-TPTB: Đại cáo ( bài cáo cổ xưa nhất của TQ)
Bình Ngô Đại Cáo (Nguyễn Trãi)
Tựa:
-là bài văn thường được đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lý, hội họa, âm nhạc… nhằm giới thiệu mục đích, nội dung quá trình hình thành và kết cấu của tác phẩm ấy.
- Bài tựa có thể do tác giả tự viết, cũng có thể do một ai đó vì yêu quý mến mộ tác phẩm mà viết. Cuối bài tựa thường ghi họ tên, chức tước của người viết và ngày tháng địa điểm làm bài tựa. Người ta gọi phần này là lạc khoản.
-Ngoài các nội dung trên, riêng bài Tựa “Trích diễm thi tập” còn cho biết về thời đại, về quan niệm văn chương của tác giả. Văn của thể tựa có tính chất thuyết minh, thường kết hợp với nghị luận và tự sự, có khi còn mang sắc thái trữ tình.
Thuyết minh về tác giả, tác phẩm văn học (6 điểm)
(gợi ý kiến thức tối thiểu cần đạt)
a. Tác gia Văn học
Đề tài: Thuyết minh về một tác gia văn học “Nguyễn Trãi”
Kết cấu văn bản theo trật tự logic trật tự thời gian.
Cấu trúc 3 phần
+ Phần 1: nêu vấn đề -> Giới thiệu chung và nhận định về giá trị và ảnh hưởng của Nguyễn Trãi
+ Phần 2: Giới thiệu chi tiết về Nguyễn Trãi
Sơ lược tiểu sử, cuộc đời.
sự nghiệp sáng tác thơ văn
Tác phẩm tiêu biểu
Nội dung tác phẩm
vị trí ảnh hưởng của tác gia đối với lịch sử văn học
+ Phần 3: Khẳng định đóng góp và vị trí của Nguyễn trãi đối với văn hoá Việt Nam.
Tác phẩm văn học
b. Tác phẩm văn học
Đề tài Thuyết minh một tác phẩm văn học: “Đại cáo bình Ngô”
Kết cấu văn bản theo trật tự logic và trật tự thời gian.
Vị trí tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác
Thể loại tác phẩm
Nhan đề
giới thiệu nội dung và nghệ thuật tác phẩm
Nêu luận đề chính nghĩa
Tố cáo tội ác quân Minh
Chủ đề
Nghệ thuật
Khẳng định giá trị của tác phẩm
vị trí của tác phẩm trong sự nghiệp sáng tác của tác giả.
Đánh giá chung.
Đề tài: Thuyết minh tác phẩm: “Bạch Đằng giang phú”
Kết cấu văn bản theo trật tự logic và trật tự thời gian.
Tác giả, xuất xứ
thể loại tác phẩm
giới thiệu nội dung và nghệ thuật tác phẩm
Thú du ngoan và cảm xúc của nhân vật “khách”
Những chiến công vĩ đại của quân ta trên sông Bạch Đằng và sự thất bại thảm hại của kẻ thù qua lời kể của các bô lão.
lời ca về sông Bạch Đằng.
Chủ đề
Đánh giá
Nội dung, nghệ thuật
Đánh giá chung
Môn Ngữ Văn 10
Ban nâng cao
Thuyết minh về tác giả (2đ) (gợi ý kiến thức tối thiểu cần đạt)
Trương Hán Siêu
Trương Hán Siêu (?-1354) tự là Thăng Phủ, người làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh, Ninh Bình.
Ông là môn khách của Trần Hưng Đạo, tham gia kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, làm quan dưới bốn đời vua Trần (Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông). Các vua Trần rất kính trọng Trương Hán Siêu, thường gọi ông là “thầy”.
Do có tài đức nên khi mất ông được thờ ở Văn Miếu (Hà Nội)
Tác phẩm của ông hiện còn lại bốn bài thơ và ba bài văn,trong đó có “ Bạch Đằng giang phú “ là tác phẩm đặc sắc của VH trung đại Việt Nam.
Hoàng Đức Lương
- Hoàng Đức Lương (chưa rõ năm sinh năm mất), người làng Cửu Cao, huyện Văn Giang, nay thuộc tỉnh Hưng yên, sau chuyển đến làng Ngọ Kiều, Gia Lâm, Hà Nội.
- Ông đỗ tiến sĩ năm 1478, Ông sưu tầm, tuyển chọn tác phẩm của các tác giả từ thời Trần đến đầu thời Lê, biên soạn thành Trích diễm thi tập và hoàn thành Trích diễm thi tập năm 1497. Tập thơ gồm 6 quyển, phần cuối là bài tựa trình bày lí do ra đời và quá trình hình thành của cuốn Trích diễm thi tập.
Lí Bạch
Lí Bạch (701 – 762), tự là Thái Bạch, quê ở tỉnh Cam Túc. Ông lớn lên ở Tứ Xuyên, tính tình hào phóng, thích giao lưu bạn bè và ngao du thưởng ngọan phong cảnh.
Năm 25 tuổi LB rời quê hương đi tìm đường thực hiện hoài bão, ước mơ, những mong dân chúng được yên vui, “đất nước thanh bình”. Ông làm việc ở viện hàn lâm, do thất vọng triều đình, chỉ sau ba năm LB đã ra đi tiếp tục cuộc ngao du sơn thủy. Ông mất vì bệnh, để lại trên 1000 bài thơ.
- Ông là một nhà thơ lãng mạn lớn, có nhiều bài thơ nổi tiếng viết về đề tài thiên nhiên, chiến tranh, tình yêu, tình bạn. Âm hưởng chủ đạo trong thơ ông là tiếng nói yêu đời, lạc quan hào phóng dù bên cạnh vẫn còn một số tác phẩm có vài nét tiêu cực như tư tưởng hành lạc, cầu tiên học đạo.
- LB đã có những sáng tạo mới mẻ, táo bạo trong việc xây dựng hình ảnh, tứ thơ cũng như trong việc sử dụng thể thơ và ngôn từ.” Tại lầu Hoàng hạc tiễn Mạch Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” được xem là bài thơ hay nhất trong đề tài tiễn biệt của Ô.
d. Đỗ Phủ
- ĐP (712-770) quê ở huyện Củng, tỉnh Hà Nam, xuất thân trong gia đình có truyền thống nho học và thơ ca lâu đời. Ô là nhà thơ hiện thực lớn nhất không chỉ của thời Đường mà của cả lịch sử thơ ca cổ Trung Quốc. Thơ ông còn được gọi là thi sử.
- Ô bắt đầu làm thơ khi nhà Đường còn phồn vinh, song sáng tác chủ yếu trong và sau cuộc cuộc binh biến An Lộc Sơn lúc đất nước Trung Quốc chìm ngập trong cảnh loạn li. ĐP có làm vài chức quan nhỏ trong một thời gian ngắn. Trong mười một năm cuối đời Ô đưa gia đình đi lánh nạn khắp các vùng thuộc các tỉnh phía tây nam Trung Quốc (Cam Túc, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam)
- Nhà thơ qua đời trong đói rét bệnh tật trên một chiếc thuyền, để lại cho hậu thế khoảng 1500 bài thơ. Năm 1962 hội đồng hòa bình thế giới tổ chức kỉ niệm 1250 năm năm sinh của ông.
- Tp tiêu biểu: Binh xa hành, Lệ nhân hành, Tam biệt, Thu hứng…
Thuyết minh về thể loại văn học: (2đ)
Phú: Phú vốn là thể văn Trung Quốc, thịnh hành vào thời Hán, dùng lối văn có nhịp điệu, nhằm miêu tả, trình bày sự vật để biểu hiện tư tưởng tình cảm của tác giả. Phú có bốn loại chính: cổ phú, bài phú, luật phú và văn phú.
Cổ phú thường dùng hình thức “chủ - khách đối đáp”, không đòi hỏi đối, cuối bài thường được kết lại bằng thơ.
Bài phú là phú dùng hình thức biền văn, câu văn 4 chữ, 6 chữ, 8 chữ sóng đôi với nhau.
Luật phú là phú thời Đường, chú trọng đến đối; vần hạn chế, gò bó.
Văn phú là Phú thời Tống, tương đối tự do có dùng câu văn xuôi.
TPTB: Phú sông Bạch Đằng - Trương Hán Siêu
Phú núi Chí Linh - Nguyễn Trãi
Cáo:
-Là tên gọi thể văn có nguồn gốc từ Trung Quốc cổ xưa. Sau này vua chuyên dùng thể cáo để công bố những việc trọng đại của đất nước với muôn dân.
-Cáo thường được viết bằng văn biền ngẫu. không có vần hoặc có vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp hai vế đối nhau. Cũng như hịch, cáo là thể văn hùng biện, do đó lời lẽ phải đanh thép, lí luận phải sắc bén, kết cấu phải chặt chẽ, mạch lạc
-TPTB: Đại cáo ( bài cáo cổ xưa nhất của TQ)
Bình Ngô Đại Cáo (Nguyễn Trãi)
Tựa:
-là bài văn thường được đặt ở đầu tác phẩm văn học hoặc sử học, địa lý, hội họa, âm nhạc… nhằm giới thiệu mục đích, nội dung quá trình hình thành và kết cấu của tác phẩm ấy.
- Bài tựa có thể do tác giả tự viết, cũng có thể do một ai đó vì yêu quý mến mộ tác phẩm mà viết. Cuối bài tựa thường ghi họ tên, chức tước của người viết và ngày tháng địa điểm làm bài tựa. Người ta gọi phần này là lạc khoản.
-Ngoài các nội dung trên, riêng bài Tựa “Trích diễm thi tập” còn cho biết về thời đại, về quan niệm văn chương của tác giả. Văn của thể tựa có tính chất thuyết minh, thường kết hợp với nghị luận và tự sự, có khi còn mang sắc thái trữ tình.
Thuyết minh về tác giả, tác phẩm văn học (6 điểm)
(gợi ý kiến thức tối thiểu cần đạt)
a. Tác gia Văn học
Đề tài: Thuyết minh về một tác gia văn học “Nguyễn Trãi”
Kết cấu văn bản theo trật tự logic trật tự thời gian.
Cấu trúc 3 phần
+ Phần 1: nêu vấn đề -> Giới thiệu chung và nhận định về giá trị và ảnh hưởng của Nguyễn Trãi
+ Phần 2: Giới thiệu chi tiết về Nguyễn Trãi
Sơ lược tiểu sử, cuộc đời.
sự nghiệp sáng tác thơ văn
Tác phẩm tiêu biểu
Nội dung tác phẩm
vị trí ảnh hưởng của tác gia đối với lịch sử văn học
+ Phần 3: Khẳng định đóng góp và vị trí của Nguyễn trãi đối với văn hoá Việt Nam.
Tác phẩm văn học
b. Tác phẩm văn học
Đề tài Thuyết minh một tác phẩm văn học: “Đại cáo bình Ngô”
Kết cấu văn bản theo trật tự logic và trật tự thời gian.
Vị trí tác phẩm
Hoàn cảnh sáng tác
Thể loại tác phẩm
Nhan đề
giới thiệu nội dung và nghệ thuật tác phẩm
Nêu luận đề chính nghĩa
Tố cáo tội ác quân Minh
Chủ đề
Nghệ thuật
Khẳng định giá trị của tác phẩm
vị trí của tác phẩm trong sự nghiệp sáng tác của tác giả.
Đánh giá chung.
Đề tài: Thuyết minh tác phẩm: “Bạch Đằng giang phú”
Kết cấu văn bản theo trật tự logic và trật tự thời gian.
Tác giả, xuất xứ
thể loại tác phẩm
giới thiệu nội dung và nghệ thuật tác phẩm
Thú du ngoan và cảm xúc của nhân vật “khách”
Những chiến công vĩ đại của quân ta trên sông Bạch Đằng và sự thất bại thảm hại của kẻ thù qua lời kể của các bô lão.
lời ca về sông Bạch Đằng.
Chủ đề
Đánh giá
Nội dung, nghệ thuật
Đánh giá chung
24 thg 10, 2009
Lý thuyết KTC đợt 2 0910
Lý thuyết:(2 điểm)
-Giá trị nội dung và nghệ thuật của ca dao, tục ngữ-
-Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Các em có thể trả lời các câu hỏi như:
1.Hiểu biết về giá trị nội dung và nghệ thuật của Ca dao-Dân ca VN
2. Cho biết vài nét về tục ngữ VN
3.Các quá trình của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ?
4. Nêu các nhân tố tham gia QT HĐGT bằng NN?
5. Các chức năng của HĐGT bằng NN?
.................
-Giá trị nội dung và nghệ thuật của ca dao, tục ngữ-
-Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Các em có thể trả lời các câu hỏi như:
1.Hiểu biết về giá trị nội dung và nghệ thuật của Ca dao-Dân ca VN
2. Cho biết vài nét về tục ngữ VN
3.Các quá trình của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ?
4. Nêu các nhân tố tham gia QT HĐGT bằng NN?
5. Các chức năng của HĐGT bằng NN?
.................
14 thg 9, 2009
Nội dung KTC đợt 1 09-10
I.Kiến thức VH
1.VHDGVN
II. Tóm tắt
1.Truyền thuyết "ADV và MC-TT"
2.Sử thi "Đăm San" của dân tộc Ê đê
3.Sử thi "Ulixơ" của Homerơ
4.Truyện cổ tích "Tấm Cám"
III.Văn tự sự :Kể lại
1.ĐT "Chiến thắng Mtao Mxây"
2.ĐT "Ulixơ trở về"
3.ĐT "Rama buộc tội"
4.Truyền thuyết "ADV và MC-TT"
5.Cổ tích "Tấm Cám"
1.VHDGVN
II. Tóm tắt
1.Truyền thuyết "ADV và MC-TT"
2.Sử thi "Đăm San" của dân tộc Ê đê
3.Sử thi "Ulixơ" của Homerơ
4.Truyện cổ tích "Tấm Cám"
III.Văn tự sự :Kể lại
1.ĐT "Chiến thắng Mtao Mxây"
2.ĐT "Ulixơ trở về"
3.ĐT "Rama buộc tội"
4.Truyền thuyết "ADV và MC-TT"
5.Cổ tích "Tấm Cám"
Các từ liên quan:
5.KT chung,
6.Lý thuyết,
ADV-MC-TT,
Đamsan,
Rama,
Tấm Cám,
Tóm tắt,
Ulixơ,
Văn tự sự
12 thg 9, 2009
Chuẩn bị KTC đợt 1 09-10-Lý thuyết
I.Kiến thức VH Bài VHDGVN
1.Nêu vắn tắt đặc điểm của VHDGVN
2.Thế nào là Tính Truyền miệng trong VHDG
3.Thế nào là tính tập thể trong VHDG
4.VHDGVN có giá trị như thế nào trong tổng thể nền văn hóa nước ta?
5.Đặc điểm ngôn ngữ và nghệ thuật của VHDG?
6.Kể tên các thể loại chính của VHDGVN?
7.Nêu những điểm chính về nội dung và nghệ thuật của các thể loại:
-Sử thi
-Truyền thuyết
-Tuyện thơ
-Cổ tích
-Ca dao-Dân ca
-Tục ngữ
-Chèo
8.Tại sao nói VHDG là VH của quần chúng nhân dân?
9.Tại sao nói VHDGVN là VH của nhiều dân tộc?
10.Thế nào là tính dị bản trong VHDG?
11.Thế nào là tính cộng cồng trong VHDG?
12. Nêu vắn tắt những hiểu biết cơ bản về VHDGVN?
Các em làm thử các câu trên và đăng trong "Nhận xét" nha
1.Nêu vắn tắt đặc điểm của VHDGVN
2.Thế nào là Tính Truyền miệng trong VHDG
3.Thế nào là tính tập thể trong VHDG
4.VHDGVN có giá trị như thế nào trong tổng thể nền văn hóa nước ta?
5.Đặc điểm ngôn ngữ và nghệ thuật của VHDG?
6.Kể tên các thể loại chính của VHDGVN?
7.Nêu những điểm chính về nội dung và nghệ thuật của các thể loại:
-Sử thi
-Truyền thuyết
-Tuyện thơ
-Cổ tích
-Ca dao-Dân ca
-Tục ngữ
-Chèo
8.Tại sao nói VHDG là VH của quần chúng nhân dân?
9.Tại sao nói VHDGVN là VH của nhiều dân tộc?
10.Thế nào là tính dị bản trong VHDG?
11.Thế nào là tính cộng cồng trong VHDG?
12. Nêu vắn tắt những hiểu biết cơ bản về VHDGVN?
Các em làm thử các câu trên và đăng trong "Nhận xét" nha
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)