Họ và tên: Nguyễn Ngọc Xuân Quỳnh
Lớp: 10A8 Tổ:1
Đề bài: Kể lại đoạn trích Uy-lít-xơ trở về
Bài làm
Những trang văn bất diệt của Hô-me-rơ vẫn còn được lưu truyền cho tới ngày nay mà một trong số đó là sử thi Ô-đi-xê. Khúc ca thứ 23 của bản anh hùng ca này đã khắc họa vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp, với tấm lòng thủy chung nhưng cũng không kém phần thông minh.
Quả là những giông tố lớn trong cuộc hôn nhân của Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp khi Uy-lít-xơ chinh chiến ròng rã 10 năm ở thành Tơ-roa, chàng lại mất thêm 10 năm nữa để thoát khỏi sự giam cầm của nữ thần Ca-líp-xô và rời khỏi xứ sở của vua An-ki-nô-ốt. Trong khi ấy, Pê-nê-lốp cùng người con trai Tê-lê-mác đang phải đối mặt với 108 kẻ quyền quý đến cầu hôn chỉ hòng chiếm đoạt gia sản của chàng. Thật may mắn khi lúc ấy Uy-lít-xơ đã trở về, dưới dạng người hành khất, chàng cùng con trai đã chiến thắng trong cuộc thi chọn chồng mà Pê-nê-lốp tổ chức, đánh đuổi được bọn cầu hôn hung hãn và lũ đầy tớ phản chủ.
Khi nhũ mẫu Ơ-ri-clê rửa chân cho Uy-lít-xơ, già đã nhận ra vết sẹo mà Uy-lít-xơ bị lợn lòi húc ngày trước, nhưng khi già kể lại cho Pê-nê-lốp, nàng lại ngờ vực điều đó, nàng xuống lầu và mặt đối mặt với Uy-lít-xơ, nàng rất đỗi phân vân không biết nên đứng xa hay đứng gần, nàng ngồi lặng thinh trên ghế, có lúc lòng nàng đầy sửng sốt, nhìn chồng mình một cách âu yếm, nhưng khi lại không nhận ra bộ dạng xa lạ của Uy-lít-xơ. Tê-lê-mác lấy làm lạ và hết lời trách móc Pê-nê-lốp, nhưng nàng từ tốn và thận trọng giải thích cho người con trai, về phía Uy-lít-xơ, với một trí tuệ thông minh và phong thái điềm tĩnh, chàng buông lời trấn an con trai, chàng dễ dàng hiểu cho sự thận trọng, khôn ngoan của người vợ cũng như đoán rằng vợ chàng còn muốn thử thách chàng sự thật.
Ngay khi đó, Pê-nê-lốp đã nhanh trí nghĩ đến những dấu hiệu riêng mà chỉ có vợ chồng nàng biết với nhau. Pê-nê-lốp khôn khéo gợi nhắc chồng mình về chiếc giường hạnh phúc của họ năm xưa nay đã bị dời khỏi vị trí cũ, bởi nếu ngồi trước mặt nàng đây là Uy-lít-xơ thì chàng sẽ nhắc tới nó ngay. Quả đúng như thế, một Uy-lít-xơ chung tình và thông minh đã miêu tả chính xác chiếc giường ấy, chiếc giường mà thế gian chỉ một bởi Uy-lít-xơ đã đẽo ra nó từ một cây ôliu lá dài, rồi lấy vàng bạc, ngà nạm dát vào để trang trí sau đó mới dựng nên căn phòng của hai vợ chồng xung quanh cây. Uy-lít-xơ vừa dứt câu cũng là lúc Pê-nê-lốp điêu đứng, mọi nghi ngờ đều đã được hóa giải, nỗi xúc động trào dâng mãnh liệt khiến nàng phải đầm đìa nước mắt là chạy lại ôm hôn âu yếm Uy-lít-xơ. Trong nước mắt, nàng giải thích mọi hành động khó hiểu và lạnh lùng của mình khi trước, Uy-lít-xơ cũng chẳng thể điềm tĩnh trước tình yêu chân thành của Pê-nê-lốp, họ cùng khóc, cùng ôm lấy nhau và hạnh phúc như những ngày mới biết yêu. Uy-lít-xơ có thể khôn ngoan khi gặp lại Pê-nê-lốp, nhưng với Pê-nê-lốp, một người phụ nữ khi mọi nghi ngờ đã được giải tỏa, khi được gặp lại bóng hình mà nàng đã mỏi mòn thương nhớ bấy lâu, không còn gì có thể vui mừng hơn thế!
Với quá nhiều cung bậc cảm xúc và những diễn biến tâm lý phức tạp của một phụ nữ, truyện đã xây dựng được một bố cục hợp lý: một nút thắt căng thẳng đẩy Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ vào tình huống phải đấu trí với nhau và sau đó là cao trào được hóa giải, cảm xúc nghẹn ngào. Qua đó, hình thành nên những tính cách nhân vật tiêu biểu cho con người Hy Lạp thời bấy giờ: phụ nữ cần yêu tha thiết, mãnh liệt, trái tim phụ nữ cẩn trọng, thủy chung, khôn ngoan mà cũng biến hóa khó lường, đàn ông điềm tĩnh, yêu giận rõ ràng, giàu trí tuệ và cảm xúc như Uy-lít-xơ. Tình huống truyện đưa ra cũng đã lay động những trái tim biết yêu thương về bài học phải biết dũng cảm, khôn khéo đương đầu với mọi thử thách dù là trong cuộc sống hay trong tình yêu, từ đó mọi ước vọng của con người sẽ được toại nguyện. Một cốt truyện miêu tả những cung bậc cảm xúc mãnh liệt như thế, với những hình mẫu nhân vật hết sức lý tưởng thì dễ dàng chinh phục những trái tim tuổi hồng đầy mơ mộng như tôi.
Qua những thử thách, gian nan mà Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ phải đối mặt, truyện ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp mà con người cần có, từ đó thể hiện những lối ứng xử có tình có lý mà ta nên học hỏi. Nhưng với tính chất là truyện sử thi, câu chuyện còn cho thấy quá trình con người Hy Lạp chinh phục thiên nhiên, giải quyết các xung đột xã hội và gia đình, sử thi Ô-đi-xê xứng đáng là bộ truyện sử thi đại diện cho hình ảnh đất nước, con người Hy Lạp.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sử thi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sử thi. Hiển thị tất cả bài đăng
30 thg 10, 2010
Sử thi Ramayana
Đề : Kể lại truyện Ramayana
Nếu như những tác phẩm văn học Việt Nam đem lại những cảm xúc những tình cảm quê hương dân tộc thì các tác phẩm văn học nước ngoài lại cho ta một trải nghiệm khác biệt với hình tượng người anh hùng hay những truyền thống của họ. “Ramayana” cũng nằm trong số ấy.
“Ramayana” là một sử thi cổ đại viết dưới dạng trường ca tiếng Phạn và là một phần quan trọng của bộ kinh Ấn Độ giáo . Đây là bộ sử thi bằng tiếng Phạn nổi tiếng thứ hai của Ấn Độ cổ đại. Sử thi “Ramayana: đã nêu lên những chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử trưởng Rama, ca ngợi mối tình chung thuỷ của nàng Xita, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội người Arian. Tác phẩm bắt nguồn từ truyền thuyết về hoàng tử Rama, được lưu truyền trong dân gian mấy ngàn năm về trước, vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và đã được Vanmiki- một đạo sĩ Bà Lamôn đã ghi lại bằng văn vần. Sử thi Ramayana có độ dài 24.000 câu đôi chia ra thành 7 khúc ca. Nó có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới ca múa, kiến trúc, hội hoạ... trong việc khơi ngợi đề tài và nguồn cảm hứng.
Câu truyện bắt đầu kể từ nhà vua Đa-xa-ra-tha đã trở nên già yếu và muồn truyền ngôi. Khi có ông có bốn người con trai do bà vợ sinh ra và Rama – người con đầu là có tài và đức hơn cả. Khi Đa-xa-ra-tha muốn truyền ngôi báu cho Ra-ma, thì do lòng đố kị, thứ phi Ka-kê-i nhắc lại một ân huệ cũ, buộc nhà vua đày ải Ra-ma vào rừng 14 năm, trao vương quốc cho con trai bà là Bra-ra-ta, Ra-ma vâng lệnh .Vợ chàng, Xi-ta, cùng người em trai thân thiết nhất của chàng,Lắc-ma-na, tình nguyện theo Ra-ma chịu lưu đày. Khi thời hạn lưu đày sắp hết thì xảy ra một tai biến lớn. Quỷ Ra-va-na đã dùng mưu bắt cóc Xi-ta, cuốn nàng trong vạt áo, bay về đảo Lan-ka. Mất Xi-ta, Ra-ma đau buồn khôn xiết .Trên đường đi tìm Xi-ta, Ra-ma gặp và gíup đỡ vua khỉ Xu-gri-va chống lại người anh trai bất công, giành lại vợ và vương quốc. Do đó chàng được vua khỉ Xu-gri-va, tướng khỉ Ha-nu-man cùng đòan quân khỉ giúp vượt biển, tấn công đảo Lan-ka. Sau cùng, Ra-ma hạ thủ Ra-va-na trong giao tranh, giải cứu Xi-ta. Nhưng sau chiến thắng vẻ vang đó, Rama nghi ngờ tiết hạnh của Xi-ta, nổi cơn ghen dữ dội, không muốn nhận lại nàng làm vợ. Để Rama tin ở lòng chung thủy của mình, Xi-ta đã bước vào lửa. Thần lửa A-nhi biết được nàng trong sạch, đã cứu nàng. Thấy vậy Rama vô cùng sung sướng, giang tay đón nàng. Hai người đưa nhau trở về kinh đô trong cảnh chào đón nồng nhiệt của dân chúng.
Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của sử thi yamarana thật đặc sắc. Tác phẩm đã khắc họa được những tính cách tuyệt vời của hai nhân vật chính. Rama là một con người tôn trọng danh dự, hi sinh cả tình yêu vì muốn bảo vệ danh dự của dòng tộc. Về phía Xi-ta , nàng cũng đã chứng minh và khẳng định được tấm lòng thủy chung của mình bằng cách hi sinh cả tình yêu và thân mình. Cả hai đã đều hi sinh tình yêu để bảo vệ danh dự và nhân phẩm.
Ramayana ngợi ca chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử Rama, ca ngợi mối tình chung thuỷ của nàng Xita, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội người Arian. Tuy là một tác phẩm ca ngợi đẳng cấp quý tộc vũ sĩ nhưng đã khắc họa được những gương mặt có tâm hồn trong sáng. Rama là nhân vật lí tưởng kiểu mẫu của đạo Hinđu, của đẳng cấp vương công quý tộc đồng thời là khát vọng của nhân dân về một vị minh quân, một anh hùng tài ba, đức độ, đem lại hạnh phúc cho xã hội. Xi-ta thánh thiện, là mẫu người phụ nữ Ấn Độ cổ đại, một người vợ tiết hạnh, một người con gái nhân hậu, quả quyết, hi sinh quên mình. Tướng khỉ Hanuman có trái tim nóng bỏng nhiệt tình, là hoá thân của lực lượng quần chúng nhân dân làm hậu thuẫn cho những anh hùng chiến đấu cho tự do và công lý, giải phóng bảo vệ đất nước.. Tác phẩm cũng đã nêu bật được khát vọng chiến thắng cái ác, đem lại nguồn an ủi cho quần chúng nhân dân bị áp bức, do đó được nhân dân rất ưa chuộng. Vì thế, những câu chuyện và những nhân vật trong Ramayana đã được nhiều văn nghệ sĩ khắc họa trong thơ ca và trong các công trình mỹ thuật - điêu khắc ở Ấn Độ và các nước Đông Nam Á.Đặc điểm nổi bật khiến Ramayana sống mãi trong lòng người đọc là sức gợi cảm của nó, với sự kết hợp của yếu tố tưởng tượng kì ảo và việc phản ánh hiện thực khách quan, nét hoang đường kì ảo và việc miêu tả tính cách con người trần tục, những cảnh oai hùng và những cảnh bi tráng.Ramayana đã song hành cùng lịch sử dân tộc Ấn Độ dẫu qua nhiều sự gọt giũa của các thi sĩ vô danh, qua nhiều lời kể của các nghệ nhân dân gian, song vẫn là tiếng ca bất hủ về lòng hướng thiện, tư tưởng yêu hòa bình, đề cao sự công bình bác ái; với những triết lí mang tầm nhân loại có giá trị cho muôn đời: lẽ hài hòa, bổn phận, khát vọng, đúng như Vanmiki đã nói: “chừng nào sông chưa cạn, đá chưa mòn thì anh hùng ca Ramayana còn làm say mê lòng người và giải thoát họ ra khỏi vòng tội lỗi”.
Như vậy, qua sử thi Ramayana, ta đã hiểu được phần nào phẩm chất con người Ấn Độ trong xã hội cổ xưa. Tình yêu của họ thật thiêng liêng và cao quý biết chừng nào.
Nếu như những tác phẩm văn học Việt Nam đem lại những cảm xúc những tình cảm quê hương dân tộc thì các tác phẩm văn học nước ngoài lại cho ta một trải nghiệm khác biệt với hình tượng người anh hùng hay những truyền thống của họ. “Ramayana” cũng nằm trong số ấy.
“Ramayana” là một sử thi cổ đại viết dưới dạng trường ca tiếng Phạn và là một phần quan trọng của bộ kinh Ấn Độ giáo . Đây là bộ sử thi bằng tiếng Phạn nổi tiếng thứ hai của Ấn Độ cổ đại. Sử thi “Ramayana: đã nêu lên những chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử trưởng Rama, ca ngợi mối tình chung thuỷ của nàng Xita, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội người Arian. Tác phẩm bắt nguồn từ truyền thuyết về hoàng tử Rama, được lưu truyền trong dân gian mấy ngàn năm về trước, vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và đã được Vanmiki- một đạo sĩ Bà Lamôn đã ghi lại bằng văn vần. Sử thi Ramayana có độ dài 24.000 câu đôi chia ra thành 7 khúc ca. Nó có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới ca múa, kiến trúc, hội hoạ... trong việc khơi ngợi đề tài và nguồn cảm hứng.
Câu truyện bắt đầu kể từ nhà vua Đa-xa-ra-tha đã trở nên già yếu và muồn truyền ngôi. Khi có ông có bốn người con trai do bà vợ sinh ra và Rama – người con đầu là có tài và đức hơn cả. Khi Đa-xa-ra-tha muốn truyền ngôi báu cho Ra-ma, thì do lòng đố kị, thứ phi Ka-kê-i nhắc lại một ân huệ cũ, buộc nhà vua đày ải Ra-ma vào rừng 14 năm, trao vương quốc cho con trai bà là Bra-ra-ta, Ra-ma vâng lệnh .Vợ chàng, Xi-ta, cùng người em trai thân thiết nhất của chàng,Lắc-ma-na, tình nguyện theo Ra-ma chịu lưu đày. Khi thời hạn lưu đày sắp hết thì xảy ra một tai biến lớn. Quỷ Ra-va-na đã dùng mưu bắt cóc Xi-ta, cuốn nàng trong vạt áo, bay về đảo Lan-ka. Mất Xi-ta, Ra-ma đau buồn khôn xiết .Trên đường đi tìm Xi-ta, Ra-ma gặp và gíup đỡ vua khỉ Xu-gri-va chống lại người anh trai bất công, giành lại vợ và vương quốc. Do đó chàng được vua khỉ Xu-gri-va, tướng khỉ Ha-nu-man cùng đòan quân khỉ giúp vượt biển, tấn công đảo Lan-ka. Sau cùng, Ra-ma hạ thủ Ra-va-na trong giao tranh, giải cứu Xi-ta. Nhưng sau chiến thắng vẻ vang đó, Rama nghi ngờ tiết hạnh của Xi-ta, nổi cơn ghen dữ dội, không muốn nhận lại nàng làm vợ. Để Rama tin ở lòng chung thủy của mình, Xi-ta đã bước vào lửa. Thần lửa A-nhi biết được nàng trong sạch, đã cứu nàng. Thấy vậy Rama vô cùng sung sướng, giang tay đón nàng. Hai người đưa nhau trở về kinh đô trong cảnh chào đón nồng nhiệt của dân chúng.
Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của sử thi yamarana thật đặc sắc. Tác phẩm đã khắc họa được những tính cách tuyệt vời của hai nhân vật chính. Rama là một con người tôn trọng danh dự, hi sinh cả tình yêu vì muốn bảo vệ danh dự của dòng tộc. Về phía Xi-ta , nàng cũng đã chứng minh và khẳng định được tấm lòng thủy chung của mình bằng cách hi sinh cả tình yêu và thân mình. Cả hai đã đều hi sinh tình yêu để bảo vệ danh dự và nhân phẩm.
Ramayana ngợi ca chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử Rama, ca ngợi mối tình chung thuỷ của nàng Xita, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội người Arian. Tuy là một tác phẩm ca ngợi đẳng cấp quý tộc vũ sĩ nhưng đã khắc họa được những gương mặt có tâm hồn trong sáng. Rama là nhân vật lí tưởng kiểu mẫu của đạo Hinđu, của đẳng cấp vương công quý tộc đồng thời là khát vọng của nhân dân về một vị minh quân, một anh hùng tài ba, đức độ, đem lại hạnh phúc cho xã hội. Xi-ta thánh thiện, là mẫu người phụ nữ Ấn Độ cổ đại, một người vợ tiết hạnh, một người con gái nhân hậu, quả quyết, hi sinh quên mình. Tướng khỉ Hanuman có trái tim nóng bỏng nhiệt tình, là hoá thân của lực lượng quần chúng nhân dân làm hậu thuẫn cho những anh hùng chiến đấu cho tự do và công lý, giải phóng bảo vệ đất nước.. Tác phẩm cũng đã nêu bật được khát vọng chiến thắng cái ác, đem lại nguồn an ủi cho quần chúng nhân dân bị áp bức, do đó được nhân dân rất ưa chuộng. Vì thế, những câu chuyện và những nhân vật trong Ramayana đã được nhiều văn nghệ sĩ khắc họa trong thơ ca và trong các công trình mỹ thuật - điêu khắc ở Ấn Độ và các nước Đông Nam Á.Đặc điểm nổi bật khiến Ramayana sống mãi trong lòng người đọc là sức gợi cảm của nó, với sự kết hợp của yếu tố tưởng tượng kì ảo và việc phản ánh hiện thực khách quan, nét hoang đường kì ảo và việc miêu tả tính cách con người trần tục, những cảnh oai hùng và những cảnh bi tráng.Ramayana đã song hành cùng lịch sử dân tộc Ấn Độ dẫu qua nhiều sự gọt giũa của các thi sĩ vô danh, qua nhiều lời kể của các nghệ nhân dân gian, song vẫn là tiếng ca bất hủ về lòng hướng thiện, tư tưởng yêu hòa bình, đề cao sự công bình bác ái; với những triết lí mang tầm nhân loại có giá trị cho muôn đời: lẽ hài hòa, bổn phận, khát vọng, đúng như Vanmiki đã nói: “chừng nào sông chưa cạn, đá chưa mòn thì anh hùng ca Ramayana còn làm say mê lòng người và giải thoát họ ra khỏi vòng tội lỗi”.
Như vậy, qua sử thi Ramayana, ta đã hiểu được phần nào phẩm chất con người Ấn Độ trong xã hội cổ xưa. Tình yêu của họ thật thiêng liêng và cao quý biết chừng nào.
28 thg 10, 2010
Kể về Sử thi Đamsan
TÊN : LÂM HÙYNH NHƯ
LỚP: 10A8 STT: 24
NĂM HỌC: 2010-2011
Kể lại sử thi Đămsan
Đăm Săn là một trong những tác phẩm sử thi tiêu biểu nhất của đồng bào Ê- đê Tây Nguyên và cũng là một trong những tác phẩm hay nhất, hào hùng nhất của thể loại sử thi anh hùng được lưu truyền đến ngày nay. Có lẽ người để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng chúng ta chính là Đăm Săn, một tù trưởng anh hùng, một người chiến binh dũng cảm, Bằng những biện pháp nghệ thuật đặc sắc thường thấy trong sử thi, tác phẩm đã cho ta thấy một bức chân dung khá trọn vẹn về người anh hùng sử thi Đăm Săn với sức mạnh, tài năng và vẻ đẹp phi thường dũng sĩ tiêu biểu chi tinh thần, ý chí của cả cộng đồng.
Đămsan theo tục nối dậy đã về làm chồng của hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bị.Từ đó Đămsan trở nên là một tù trưởng giàu có và uy danh lừng lẫy.Các tù trưởng Kên Kên, tù trưởng Sắt thấy thế nên ghen tị vì vậy thừa lúc Đăm Săn cùng các nô lệ lên rẫy, ra sông làm lụng đã kéo người tới cướp phá buôn của chàng và bắt Hơ Nhị về làm vợ.Đămsan tổ chức đánh trả , chàng tiến đánh kẻ thù một cách quang minh chính đại với tư thế đường hoàng, sự dũng cảm và bản lĩnh vô song. Bước vào lãnh địa của Mtao Mxây, chàng dõng dạc, đường hoàng tới tận chân cầu thang nhà kẻ thù mà khiêu chiến: “Ơ diêng! Ta thách nhà ngươi xuống đây đọ đao với ta đấy”.Đămsan luôn chủ động ,tiến đánh mạnh mẽ còn kẻ thù thì luôn ở thế bị động, khiếp sợ.Chàng tiến đánh hai lần và cả hai lần đều giành chiến thắng, cứu dc vợ và tịch thu của cải của kẻ thù khiến oai danh của chàng càng lừng lẫy, bộ tộc càng giàu có, đông đúc.
Một lần tình cờ gặp cây sơmúc, Đămsan đã ra sức chặt đổ và ngay sau đó cả 2 vợ đều chết.Đămsan phải lặn lội tìm lối lên Trời để xin thuốc thần cứu vợ sống lại.Chẳng bao lâu, Đămsan lại tìm cách lên Trời để xin hỏi cưới nữ thần Mặt Trời nhưng lại bị từ chối.Tức giận, Đămsan đã bỏ về và cả người lẫn ngựa đều bị chết ngập ở rừng Sáp Đen, nhão như bùn nước.Hồn chàng biến thành con ruồi bay vào miệng chị gái của mình là HơÂng khiến nàng có mang và sinh ra đứa con trai.Đó là Đămsan cháu,lớn lên lại đi tiếp con đường của người cậu anh hùng.
Sử thi Đăm Săn được xem như là một trong những tác phẩm nổi tiếng của dân tộc, tiêu biểu cho sức mạnh chính nghĩa và khát vọng của cộng đồng. Thông qua hình tượng người anh hùng Đăm Săn, người nhân thể hiện ước vọng của mình trong công cuộc chinh phục thiên nhiên. Điều đó được thể hiện qua hành động Đăm Săn hỏi cưới nữ thần Mặt Trời, vác rìu lên trời. Những chiến thắng và sự giàu có của chàng tượng trưng cho ước vọng ấm no hạnh phúc và trừng trị cái ác của dân tộc Ê-đê. Đồng thời hành động chặt đổ cây sơ-múc bên nhà vợ thể hiện ước muốn thoát khỏi tục nối dây để có thể tự do yêu nhau. Tác phẩm đã đem lại cho ta những cách nhìn độc đáo về người anh hùng Đam Săn trong chiến công bảo vệ buôn làng, đem lại bình yên cho bộ tộc. Lời kể chuyện hấp dẫn cùng ngôn ngữ miêu tả khoa trương tạo được dấu ấn đặc sắc, chứa đựng những giá trị nhân văn đặc trưng của sử thi. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, cụ thể, chi tiết được chắt lọc từ hình ảnh của cuộc sống, thiên nhiên gắn liền với mảnh đất và con người Tây Nguyên phóng khóang, kì vĩ.Tác phẩm đã sử dụng hiệu quả các biện pháp nghệ thuật tăng tiến, so sánh, nói quá, liệt kê, lối nói đòn bẫy- dùng Mtao Mxây để tôn vinh vẻ đẹp của Đămsan, tạo nên khí thế sôi nổi , hào hùng, ca ngợi chiến công của người anh hùng.Tác phẩm còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc,phải luôn gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, ấm áp, luôn tôn trọng bản thân và cả những người xung quanh.
Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp người anh hùng Đămsan, một người trọng danh dự, gắn bó hạnh phúc gia đình với hạnh phúc chung của cộng đồng, sống tha thiết với cuộc sống bình yên, thịnh vượng của cả cộng đồng.Đó là người anh hùng mang tầm vóc sử thi kì vĩ và lớn lao.
LỚP: 10A8 STT: 24
NĂM HỌC: 2010-2011
Kể lại sử thi Đămsan
Đăm Săn là một trong những tác phẩm sử thi tiêu biểu nhất của đồng bào Ê- đê Tây Nguyên và cũng là một trong những tác phẩm hay nhất, hào hùng nhất của thể loại sử thi anh hùng được lưu truyền đến ngày nay. Có lẽ người để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng chúng ta chính là Đăm Săn, một tù trưởng anh hùng, một người chiến binh dũng cảm, Bằng những biện pháp nghệ thuật đặc sắc thường thấy trong sử thi, tác phẩm đã cho ta thấy một bức chân dung khá trọn vẹn về người anh hùng sử thi Đăm Săn với sức mạnh, tài năng và vẻ đẹp phi thường dũng sĩ tiêu biểu chi tinh thần, ý chí của cả cộng đồng.
Đămsan theo tục nối dậy đã về làm chồng của hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bị.Từ đó Đămsan trở nên là một tù trưởng giàu có và uy danh lừng lẫy.Các tù trưởng Kên Kên, tù trưởng Sắt thấy thế nên ghen tị vì vậy thừa lúc Đăm Săn cùng các nô lệ lên rẫy, ra sông làm lụng đã kéo người tới cướp phá buôn của chàng và bắt Hơ Nhị về làm vợ.Đămsan tổ chức đánh trả , chàng tiến đánh kẻ thù một cách quang minh chính đại với tư thế đường hoàng, sự dũng cảm và bản lĩnh vô song. Bước vào lãnh địa của Mtao Mxây, chàng dõng dạc, đường hoàng tới tận chân cầu thang nhà kẻ thù mà khiêu chiến: “Ơ diêng! Ta thách nhà ngươi xuống đây đọ đao với ta đấy”.Đămsan luôn chủ động ,tiến đánh mạnh mẽ còn kẻ thù thì luôn ở thế bị động, khiếp sợ.Chàng tiến đánh hai lần và cả hai lần đều giành chiến thắng, cứu dc vợ và tịch thu của cải của kẻ thù khiến oai danh của chàng càng lừng lẫy, bộ tộc càng giàu có, đông đúc.
Một lần tình cờ gặp cây sơmúc, Đămsan đã ra sức chặt đổ và ngay sau đó cả 2 vợ đều chết.Đămsan phải lặn lội tìm lối lên Trời để xin thuốc thần cứu vợ sống lại.Chẳng bao lâu, Đămsan lại tìm cách lên Trời để xin hỏi cưới nữ thần Mặt Trời nhưng lại bị từ chối.Tức giận, Đămsan đã bỏ về và cả người lẫn ngựa đều bị chết ngập ở rừng Sáp Đen, nhão như bùn nước.Hồn chàng biến thành con ruồi bay vào miệng chị gái của mình là HơÂng khiến nàng có mang và sinh ra đứa con trai.Đó là Đămsan cháu,lớn lên lại đi tiếp con đường của người cậu anh hùng.
Sử thi Đăm Săn được xem như là một trong những tác phẩm nổi tiếng của dân tộc, tiêu biểu cho sức mạnh chính nghĩa và khát vọng của cộng đồng. Thông qua hình tượng người anh hùng Đăm Săn, người nhân thể hiện ước vọng của mình trong công cuộc chinh phục thiên nhiên. Điều đó được thể hiện qua hành động Đăm Săn hỏi cưới nữ thần Mặt Trời, vác rìu lên trời. Những chiến thắng và sự giàu có của chàng tượng trưng cho ước vọng ấm no hạnh phúc và trừng trị cái ác của dân tộc Ê-đê. Đồng thời hành động chặt đổ cây sơ-múc bên nhà vợ thể hiện ước muốn thoát khỏi tục nối dây để có thể tự do yêu nhau. Tác phẩm đã đem lại cho ta những cách nhìn độc đáo về người anh hùng Đam Săn trong chiến công bảo vệ buôn làng, đem lại bình yên cho bộ tộc. Lời kể chuyện hấp dẫn cùng ngôn ngữ miêu tả khoa trương tạo được dấu ấn đặc sắc, chứa đựng những giá trị nhân văn đặc trưng của sử thi. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, cụ thể, chi tiết được chắt lọc từ hình ảnh của cuộc sống, thiên nhiên gắn liền với mảnh đất và con người Tây Nguyên phóng khóang, kì vĩ.Tác phẩm đã sử dụng hiệu quả các biện pháp nghệ thuật tăng tiến, so sánh, nói quá, liệt kê, lối nói đòn bẫy- dùng Mtao Mxây để tôn vinh vẻ đẹp của Đămsan, tạo nên khí thế sôi nổi , hào hùng, ca ngợi chiến công của người anh hùng.Tác phẩm còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc,phải luôn gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, ấm áp, luôn tôn trọng bản thân và cả những người xung quanh.
Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp người anh hùng Đămsan, một người trọng danh dự, gắn bó hạnh phúc gia đình với hạnh phúc chung của cộng đồng, sống tha thiết với cuộc sống bình yên, thịnh vượng của cả cộng đồng.Đó là người anh hùng mang tầm vóc sử thi kì vĩ và lớn lao.
Cảm nhận đoạn trích "Rama buộc tội"
Đề : Cảm nhận về đoạn trích “Rama buộc tội”
Qua các tác phẩm văn học nước ngoài , ta có thể cảm nhận được những câu câu chuyện , những ý nghĩa khác nhau về cuộc sống , truyền thống và lòng tin của họ . Rama buộc tội – mội trích đoạn trong sử thi nổi tiếng Ramayana cũng đã thể hiện được điều đó.
Sử thi Ramayana đã nêu lên những chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử trưởng Rama, ca ngợi mối tình chung thuỷ của nàng Xita, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội người Arian. Tác phẩm bắt nguồn từ truyền thuyết về hoàng tử Rama, được lưu truyền trong dân gian mấy ngàn năm về trước, vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và đã được Vanmiki- một đạo sĩ Bà Lamôn đã ghi lại bằng văn vần. Sử thi Ramayana có độ dài 24.000 câu đôi chia ra thành 7 khúc ca. Nó có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới ca múa (vũ điệu Xita) kiến trúc, hội hoạ... trong việc khơi ngợi đề tài và nguồn cảm hứng.
Đoạn trích Rama buộc tội nằm ở khúc ca thứ 6 chương 79 và được chia làm hai đoạn . Đoạn một nói lên cơn giân dữ và diễn biến tâm trạng của Rama và đoạn còn lại nêu được diễn biến tâm trạng của Xita muốn tự khẵng định bản thân mình trong sạch khi bước lện dàn hỏa thiêu.
Đầu tiên ta phải nói tới thái độ của Rama khi gặp lại Xita. Một thái độ hết sức lạnh lùng, dửng dưng, xa cách. Đây là một thái độ không bình thường ở chỗ lẽ thường, sau một thời gian xa cách, gặp lại vợ, Rama phải vui mừng, hạnh phúc... trước đó, Rama đã bất chấp gian khổ, băng rừng vượt suối để tìm Xita, nhưng tại sao khi gặp lại Rama lại không hề có cảm giác với Xita? Có lẽ vì quá yêu thương Xita và đau nhói khi nghĩ rằng Xita đã đánh mất trinh tiết của mình vào tay ác quỷ. Cơn ghen của Rama trước hết được bắt nguồn từ một tình yêu mãnh liệt đối với Xita: "Thấy người đẹp khuôn mặt bông sen với những cuộn tóc lượn sóng đứng trước mặt mình, lòng Rama đau như cắt". Khi Xita chuẩn bị bước lên giàn hoả thiêu, sắc mặt Rama "khủng khiếp như thần chết", chàng "dán mắt xuống đất" không dám nhìn Xita. Cái khác thường là ở chỗ, cơn ghen của chàng gắn liền với danh dự, bổn phận của một quý tộc: "Để trả thù sự lăng nhục, ta đã làm những gì mà một con người phải làm...phải biết chắc điều này, chẳng phải là vì nàng mà ta đã đạt tới chỗ kết thúc chiến tranh...ta làm như thế là vì nhân phẩm của ta, để xoá bỏ vết ô nhục vì uy tín và danh dự của dòng họ lừng lẫy tiếng tăm của mình...". Đặc sắc của nghệ thuật thể hiện tâm trạng nhân vật là ở chỗ tác giả đã đặt nhân vật vào một tình thế đầy mâu thuẫn - mâu thuẫn giữa tình yêu cá nhân và bổn phận, danh dự của một quý tộc. Rama đã đặt danh dự của một quý tộc lên trên tình yêu, đặt cái chung lên cái riêng. Mọi hành động của chàng đều vì bổn phận: “Ta đã làm tròn lời hứa, và bây giờ ta không còn vướng mắc với chính mình. Thái độ của Rama khi Xita bước lên giàn lửa thiêu không nói một lời, Rama tỏ thái độ kiên quyết, dám hy sinh tình yêu để bảo vệ danh dự. Nhìn vào thái độ cử chỉ của chàng “Rama vẫn ngồi, mắt dán xuống đất lúc đó mon chàng khủng khiếp như thần chết vậy”
Như vậy, coi trọng danh dự, hành động vì danh dự là một phẩm nổi bật của Rama. Và đó cũng là phẩm chất lý tưởng của người anh hùng và đó cũng là tính chất cộng đồng trong sử thi cổ đại.
Điều thứ hai là diễn biến tâm trạng của Xita. Trước lời buộc tội của Rama, Xita mở tròn xoe đôi mắt đầm đìa giọt lệ...đau đớn đến nghẹt thở, như một giây leo bị vòi voi quật nát. Xita xấu hổ cho số kiếp của nàng, và nàng muốn tự chôn vùi cả hình hài của mình. Những lời của Rama xuyên vào trái tim nàng như một mũi tên...nước mắt nàng đổ ra như suối...Vì Rama buộc tội nàng trước đám đông - Xita bị đẩy vào một tình huống bi kịch, tuyệt vọng (Trước đây, trong những ngày bị quỷ vương Ravana bắt, bị dụ dỗ, hăm doạ..., Xita vẫn một mực chống cự, không hề tuyệt vọng. Bởi nàng còn có điểm tựa về tinh thần là tình yêu của Rama. Điều đó đã giúp nàng vượt qua thử thách. Xita đã kiêu hãnh nói với Ravana: "ta chỉ thuộc về một người, như ánh sáng thuộc về mặt trời vậy, người đó là Rama!". Nhưng giờ đây, chính Rama lại nghi ngờ lòng thuỷ chung của nàng - Niềm tin bị đổ vỡ, danh dự bị xúc phạm) . Trước những lời buộc tội của Rama, Xita tìm cách thuyết phục, giãi bày nỗi niềm, hi vọng Rama sẽ hiểu mình. Xita nói trong nước mắt: "Thiếp đâu phải là...". Đó là những lời giãi bày gan ruột, vừa có lý, vừa có tình. Nhưng những lời giãi bày của Xita không làm cho Rama thay đổi. Xita rơi vào tình thế tuyệt vọng. Trong hoàn cảnh đó, Xita đã lựa chọn cái chết để chứng minh cho sự trong sáng, thuỷ chung của mình. Nàng nói với Lácmana: "Hỡi Lácmana, em hãy chuẩn bị cho chị một giàn hoả thiêu. Với nông nỗi đáng buồn hiện nay, đó là phương thức duy nhất cho chị. Chị không muốn sống sau những lời tố cáo lầm lạc như vậy. Chồng chị không hài lòng về chị, chàng ta đã ruồng rẫy chị trước mặt mọi người. Giờ thì chị sẽ từ bỏ tấm thân này cho ngọn lửa". Sự lựa chọn của Xita là một sự lựa chọn dũng cảm, được bắt nguồn từ niềm tin vào phẩm hạnh của mình . Đó là sự lựa chọn giữa sống và chết, còn và mất, danh dự và nhân phẩm của một người phụ nữ trước sự chứng kiến của cộng đồng. Những lời nàng nói với thần lửa Anhi như được cất lên từ sự đớn đau, tuyệt vọng và một niềm tin mãnh liệt vào lẽ phải. (Thần Lửa Anhi trong quan niệm của người Ấn Độ cổ đại là vị thần gần gũi, biểu tượng của công lý. Vì thế trước khi bước vào ngọn lửa, Xita xin thần Lửa Anhi chứng dám cho tấm lòng trinh bạch của mình: "Nếu con trước sau một lòng một dạ với Rama thì cúi đầu xin thần hãy tìm hết cách bảo vệ con. Rama đã coi một phụ nữ trinh tiết như một kẻ gian dối; nhưng nếu con trong trắng, xin thần Anhi phù hộ con". Và cuối cùng, tấm lòng trong sáng thuỷ chung của Xita đã được thần Lửa và cộng đồng chứng dám. Danh dự và nhân phẩm của nàng đã được bảo toàn. Như vậy, vẻ đẹp lý tưởng của Xita đã được hoàn thiện: Xita không chỉ có một tình yêu trong sáng thủy chung mà còn có một lòng dũng cảm để bảo vệ tình yêu. Vẻ đẹp lí tưởng đó của Xita chứa đựng một triết lí nhân sinh sâu sắc (người Ấn cho rằng, cuộc đời không phải là một sự phẳng lặng, yên ả, mà luôn tiềm ẩn những bất trắc. Chỉ có lòng dũng cảm mới giúp con người ta vượt qua được thử thách. Họ cho rằng, trong mọi chiến thắng, chiến thắng mình là chiến thắng vĩ đại nhất!). Đây chính là phẩm chất nổi bật của hình tượng Xita qua đoạn trích và cũng là một phẩm chất lý tưởng của người phụ nữ Ấn Độ cổ xưa. Cố nhiên, đây là vẻ đẹp lý tưởng theo quan niệm cộng đồng, do vậy phải được cộng đồng chứng dám và thừa nhận. Điều này cắt nghĩa vì sao khi Xita bước lên giàn hoả thiêu lại có đủ các thần linh trên trời, dưới đất, bè bạn , dân chúng chứng kiến.
Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật. Tính cách của Rama đó chính là trọng danh dự, hy sinh cả tình yêu. Còn về Xita, nàng đã chứng minh, khẳng định tấm lòng thuỷ chung nên đã hy sinh tình yêu. Cả hai đều hy sinh tình yêu để bảo vệ danh dự và nhân phẩm.Tác phẩm mang đậm đà tính giáo huấn, tính xung đột gắy gắt về đạo lý, tính đa dạng về hệ thống nhân vật.
Như vậy, qua đoạn trích Rama buộc tội , ta đã hiểu được phần nào phẩm chất con người Ấn Độ trong xã hội cổ xưa. Tình yêu của họ thật thiêng liêng và cao quý biết chừng nào.
Qua các tác phẩm văn học nước ngoài , ta có thể cảm nhận được những câu câu chuyện , những ý nghĩa khác nhau về cuộc sống , truyền thống và lòng tin của họ . Rama buộc tội – mội trích đoạn trong sử thi nổi tiếng Ramayana cũng đã thể hiện được điều đó.
Sử thi Ramayana đã nêu lên những chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử trưởng Rama, ca ngợi mối tình chung thuỷ của nàng Xita, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội người Arian. Tác phẩm bắt nguồn từ truyền thuyết về hoàng tử Rama, được lưu truyền trong dân gian mấy ngàn năm về trước, vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và đã được Vanmiki- một đạo sĩ Bà Lamôn đã ghi lại bằng văn vần. Sử thi Ramayana có độ dài 24.000 câu đôi chia ra thành 7 khúc ca. Nó có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới ca múa (vũ điệu Xita) kiến trúc, hội hoạ... trong việc khơi ngợi đề tài và nguồn cảm hứng.
Đoạn trích Rama buộc tội nằm ở khúc ca thứ 6 chương 79 và được chia làm hai đoạn . Đoạn một nói lên cơn giân dữ và diễn biến tâm trạng của Rama và đoạn còn lại nêu được diễn biến tâm trạng của Xita muốn tự khẵng định bản thân mình trong sạch khi bước lện dàn hỏa thiêu.
Đầu tiên ta phải nói tới thái độ của Rama khi gặp lại Xita. Một thái độ hết sức lạnh lùng, dửng dưng, xa cách. Đây là một thái độ không bình thường ở chỗ lẽ thường, sau một thời gian xa cách, gặp lại vợ, Rama phải vui mừng, hạnh phúc... trước đó, Rama đã bất chấp gian khổ, băng rừng vượt suối để tìm Xita, nhưng tại sao khi gặp lại Rama lại không hề có cảm giác với Xita? Có lẽ vì quá yêu thương Xita và đau nhói khi nghĩ rằng Xita đã đánh mất trinh tiết của mình vào tay ác quỷ. Cơn ghen của Rama trước hết được bắt nguồn từ một tình yêu mãnh liệt đối với Xita: "Thấy người đẹp khuôn mặt bông sen với những cuộn tóc lượn sóng đứng trước mặt mình, lòng Rama đau như cắt". Khi Xita chuẩn bị bước lên giàn hoả thiêu, sắc mặt Rama "khủng khiếp như thần chết", chàng "dán mắt xuống đất" không dám nhìn Xita. Cái khác thường là ở chỗ, cơn ghen của chàng gắn liền với danh dự, bổn phận của một quý tộc: "Để trả thù sự lăng nhục, ta đã làm những gì mà một con người phải làm...phải biết chắc điều này, chẳng phải là vì nàng mà ta đã đạt tới chỗ kết thúc chiến tranh...ta làm như thế là vì nhân phẩm của ta, để xoá bỏ vết ô nhục vì uy tín và danh dự của dòng họ lừng lẫy tiếng tăm của mình...". Đặc sắc của nghệ thuật thể hiện tâm trạng nhân vật là ở chỗ tác giả đã đặt nhân vật vào một tình thế đầy mâu thuẫn - mâu thuẫn giữa tình yêu cá nhân và bổn phận, danh dự của một quý tộc. Rama đã đặt danh dự của một quý tộc lên trên tình yêu, đặt cái chung lên cái riêng. Mọi hành động của chàng đều vì bổn phận: “Ta đã làm tròn lời hứa, và bây giờ ta không còn vướng mắc với chính mình. Thái độ của Rama khi Xita bước lên giàn lửa thiêu không nói một lời, Rama tỏ thái độ kiên quyết, dám hy sinh tình yêu để bảo vệ danh dự. Nhìn vào thái độ cử chỉ của chàng “Rama vẫn ngồi, mắt dán xuống đất lúc đó mon chàng khủng khiếp như thần chết vậy”
Như vậy, coi trọng danh dự, hành động vì danh dự là một phẩm nổi bật của Rama. Và đó cũng là phẩm chất lý tưởng của người anh hùng và đó cũng là tính chất cộng đồng trong sử thi cổ đại.
Điều thứ hai là diễn biến tâm trạng của Xita. Trước lời buộc tội của Rama, Xita mở tròn xoe đôi mắt đầm đìa giọt lệ...đau đớn đến nghẹt thở, như một giây leo bị vòi voi quật nát. Xita xấu hổ cho số kiếp của nàng, và nàng muốn tự chôn vùi cả hình hài của mình. Những lời của Rama xuyên vào trái tim nàng như một mũi tên...nước mắt nàng đổ ra như suối...Vì Rama buộc tội nàng trước đám đông - Xita bị đẩy vào một tình huống bi kịch, tuyệt vọng (Trước đây, trong những ngày bị quỷ vương Ravana bắt, bị dụ dỗ, hăm doạ..., Xita vẫn một mực chống cự, không hề tuyệt vọng. Bởi nàng còn có điểm tựa về tinh thần là tình yêu của Rama. Điều đó đã giúp nàng vượt qua thử thách. Xita đã kiêu hãnh nói với Ravana: "ta chỉ thuộc về một người, như ánh sáng thuộc về mặt trời vậy, người đó là Rama!". Nhưng giờ đây, chính Rama lại nghi ngờ lòng thuỷ chung của nàng - Niềm tin bị đổ vỡ, danh dự bị xúc phạm) . Trước những lời buộc tội của Rama, Xita tìm cách thuyết phục, giãi bày nỗi niềm, hi vọng Rama sẽ hiểu mình. Xita nói trong nước mắt: "Thiếp đâu phải là...". Đó là những lời giãi bày gan ruột, vừa có lý, vừa có tình. Nhưng những lời giãi bày của Xita không làm cho Rama thay đổi. Xita rơi vào tình thế tuyệt vọng. Trong hoàn cảnh đó, Xita đã lựa chọn cái chết để chứng minh cho sự trong sáng, thuỷ chung của mình. Nàng nói với Lácmana: "Hỡi Lácmana, em hãy chuẩn bị cho chị một giàn hoả thiêu. Với nông nỗi đáng buồn hiện nay, đó là phương thức duy nhất cho chị. Chị không muốn sống sau những lời tố cáo lầm lạc như vậy. Chồng chị không hài lòng về chị, chàng ta đã ruồng rẫy chị trước mặt mọi người. Giờ thì chị sẽ từ bỏ tấm thân này cho ngọn lửa". Sự lựa chọn của Xita là một sự lựa chọn dũng cảm, được bắt nguồn từ niềm tin vào phẩm hạnh của mình . Đó là sự lựa chọn giữa sống và chết, còn và mất, danh dự và nhân phẩm của một người phụ nữ trước sự chứng kiến của cộng đồng. Những lời nàng nói với thần lửa Anhi như được cất lên từ sự đớn đau, tuyệt vọng và một niềm tin mãnh liệt vào lẽ phải. (Thần Lửa Anhi trong quan niệm của người Ấn Độ cổ đại là vị thần gần gũi, biểu tượng của công lý. Vì thế trước khi bước vào ngọn lửa, Xita xin thần Lửa Anhi chứng dám cho tấm lòng trinh bạch của mình: "Nếu con trước sau một lòng một dạ với Rama thì cúi đầu xin thần hãy tìm hết cách bảo vệ con. Rama đã coi một phụ nữ trinh tiết như một kẻ gian dối; nhưng nếu con trong trắng, xin thần Anhi phù hộ con". Và cuối cùng, tấm lòng trong sáng thuỷ chung của Xita đã được thần Lửa và cộng đồng chứng dám. Danh dự và nhân phẩm của nàng đã được bảo toàn. Như vậy, vẻ đẹp lý tưởng của Xita đã được hoàn thiện: Xita không chỉ có một tình yêu trong sáng thủy chung mà còn có một lòng dũng cảm để bảo vệ tình yêu. Vẻ đẹp lí tưởng đó của Xita chứa đựng một triết lí nhân sinh sâu sắc (người Ấn cho rằng, cuộc đời không phải là một sự phẳng lặng, yên ả, mà luôn tiềm ẩn những bất trắc. Chỉ có lòng dũng cảm mới giúp con người ta vượt qua được thử thách. Họ cho rằng, trong mọi chiến thắng, chiến thắng mình là chiến thắng vĩ đại nhất!). Đây chính là phẩm chất nổi bật của hình tượng Xita qua đoạn trích và cũng là một phẩm chất lý tưởng của người phụ nữ Ấn Độ cổ xưa. Cố nhiên, đây là vẻ đẹp lý tưởng theo quan niệm cộng đồng, do vậy phải được cộng đồng chứng dám và thừa nhận. Điều này cắt nghĩa vì sao khi Xita bước lên giàn hoả thiêu lại có đủ các thần linh trên trời, dưới đất, bè bạn , dân chúng chứng kiến.
Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật. Tính cách của Rama đó chính là trọng danh dự, hy sinh cả tình yêu. Còn về Xita, nàng đã chứng minh, khẳng định tấm lòng thuỷ chung nên đã hy sinh tình yêu. Cả hai đều hy sinh tình yêu để bảo vệ danh dự và nhân phẩm.Tác phẩm mang đậm đà tính giáo huấn, tính xung đột gắy gắt về đạo lý, tính đa dạng về hệ thống nhân vật.
Như vậy, qua đoạn trích Rama buộc tội , ta đã hiểu được phần nào phẩm chất con người Ấn Độ trong xã hội cổ xưa. Tình yêu của họ thật thiêng liêng và cao quý biết chừng nào.
26 thg 10, 2010
Kể về sử thi "Đăm san"
Trong suốt quá trình phát triển của , mỗi dân tộc đều có một câu chuyện riêng cho mình. Nếu người Kinh ta có câu chuyện cổ tích về về người anh hung Thánh Gióng thì người Ê-đê lại có câu truyện sử thi kể về một người tù trưởng anh hùng của dân tộc mình với những chiến công hiển hách trong xây dựng phát triển buôn làng và bảo vệ cộng đồng chống lại bao kẻ thù hung hãn. Người đó chính là Đăm-săn.
Câu chuyện bắt đầu bằng việc kết hôn của Đăm-săn và hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị theo tục nối dây.Đăm săn trở thành một vị tù trưởng giàu có và hùng mạnh cùng với những chiến thắng lừng lẫy.Vì ganh ghét với Đăm Săn nên các tù trưởng Kên Kên, tù trưởng Sắt nhân lúc Đăm Săn đưa nô lệ lên rẫy, ra sông làm lụng đưa người vào đánh phá buôn làng của chàng, bắt Hơ Nhị về làm vợ. Hai lần Đăm Săn đưa quân đi đánh trả, cả hai lần chàng đều chiến thắng oanh liệt., cứu được vợ và tịch thu của cải, khiến chàng ngày càng giàu có và lẫy lừng danh tiếng. Một lần tình cờ gặp được cây sơ-múc, Đăm Săn ra sức chặt đổ kì được. Liền sau đó cả hai vợ đều chết, Đam San lại vác rìu đi lên trời, cầu xin Trời cứu sống hai người vợ. Chẳng bao lâu sau, Đăm Săn hỏi cưới nữ thần Mặt Trời nhưng bị từ chối. Tức giận, Đăm Săn bỏ về nhưng bị chết. Hồn chàng biến thành con ruồi bay vào miệng chị gái là Hơ Âng khiến nàng sinh ra đứa con trai.Đó là Đăm Săn cháu, lớn lên và tiếp bước người cậu anh hùng.
Sử thi Đăm Săn được xem như là một trong những tác phẩm nổi tiếng của dân tộc, tiêu biểu cho sức mạnh chính nghĩa và khát vọng của cộng đồng. Thông qua hình tượng người anh hùng Đăm Săn, người nhân thể hiện ước vọng của mình trong công cuộc chinh phục thiên nhiên. Điều đó được thể hiện qua hành động Đăm Săn hỏi cưới nữ thần Mặt Trời, vác rìu lên trời. Những chiến thắng và sự giàu có của chàng tượng trưng cho ước vọng ấm no hạnh phúc và trừng trị cái ác của dân tộc Ê-đê. Đồng thời hành động chặt đổ cây sơ-múc bên nhà vợ thể hiện ước muốn thoát khỏi tục nối dây để có thể tự do yêu nhau. Đăm Săn là anh hùng dũng cảm vô song trong chiến đấu. Trong cuộc chiến với Mtao Mxây, chàng thể hiện rõ được sức mạnh, tinh thần thượng võ của mình. Đăm Săn luôn giành thế chủ động, trong khi Mtao Mxây rơi vào thế bị động. Hình ảnh của chàng trong chiến đấu được miêu tả rất đẹp thông qua những hình ảnh so sánh, phóng đại. Mtao Mxây được miêu tả trước như là đòn bẩy để miêu tả hình ảnh Đăm Săn. Giọng bài văn trở nên hùng hồn, sôi động, thể hiện được tính ác liệt của cuộc chiến. Đăm Săn còn có khả năng thuyết phục người rất cao. Sau khi đánh bại tù trưởng Sắt, Đăm Săn kêu gọi được dân làn về cùng mình, làm cho bản làng ngày càng giàu có, hùng mạnh.
Bài văn sử dụng ngôn ngữ hiền hoà, linh hoạt, hướng đến nhiều đối tượng. Ngôn ngữ của nhân vật trong giao tiếp có những đặc điểm riêng, khai thác dưới nhiều góc độ. Những hình ảnh được sử dụng trong bài thân thuộc với thiên nhiên và cuộc sống hằng ngày của con người Tây Nguyên. Bằng những hình thức liệt kê miêu tả, bài văn càng làm cho giọng điệu trở nên sôi động hơn, và góp phần thể hiện đặc điểm của Đăm Săn.
Sử thi Đăm Săn là một trong những tác phẩm nổi tiếng của dân tộc Việt Nam. Trải qua thời gian, tác phầm càng ngày được hoàn thiện, và hình tượng Đăm Săn sẽ luôn sống mãi, vẫn luôn gắn bó với con người Tây Nguyên, cũng như con người Việt Nam. Tác phẩm sẽ giúp con người nhận thức được rằng: lẽ sống, niềm vui của người anh hùng sử thi có được trong cuộc chiến đấu vì danh dự, hạnh phúc và sữ thịnh vượng cho cộng đồng.
------------
Khoa Nhật -10A8- 2010-2011
Câu chuyện bắt đầu bằng việc kết hôn của Đăm-săn và hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị theo tục nối dây.Đăm săn trở thành một vị tù trưởng giàu có và hùng mạnh cùng với những chiến thắng lừng lẫy.Vì ganh ghét với Đăm Săn nên các tù trưởng Kên Kên, tù trưởng Sắt nhân lúc Đăm Săn đưa nô lệ lên rẫy, ra sông làm lụng đưa người vào đánh phá buôn làng của chàng, bắt Hơ Nhị về làm vợ. Hai lần Đăm Săn đưa quân đi đánh trả, cả hai lần chàng đều chiến thắng oanh liệt., cứu được vợ và tịch thu của cải, khiến chàng ngày càng giàu có và lẫy lừng danh tiếng. Một lần tình cờ gặp được cây sơ-múc, Đăm Săn ra sức chặt đổ kì được. Liền sau đó cả hai vợ đều chết, Đam San lại vác rìu đi lên trời, cầu xin Trời cứu sống hai người vợ. Chẳng bao lâu sau, Đăm Săn hỏi cưới nữ thần Mặt Trời nhưng bị từ chối. Tức giận, Đăm Săn bỏ về nhưng bị chết. Hồn chàng biến thành con ruồi bay vào miệng chị gái là Hơ Âng khiến nàng sinh ra đứa con trai.Đó là Đăm Săn cháu, lớn lên và tiếp bước người cậu anh hùng.
Sử thi Đăm Săn được xem như là một trong những tác phẩm nổi tiếng của dân tộc, tiêu biểu cho sức mạnh chính nghĩa và khát vọng của cộng đồng. Thông qua hình tượng người anh hùng Đăm Săn, người nhân thể hiện ước vọng của mình trong công cuộc chinh phục thiên nhiên. Điều đó được thể hiện qua hành động Đăm Săn hỏi cưới nữ thần Mặt Trời, vác rìu lên trời. Những chiến thắng và sự giàu có của chàng tượng trưng cho ước vọng ấm no hạnh phúc và trừng trị cái ác của dân tộc Ê-đê. Đồng thời hành động chặt đổ cây sơ-múc bên nhà vợ thể hiện ước muốn thoát khỏi tục nối dây để có thể tự do yêu nhau. Đăm Săn là anh hùng dũng cảm vô song trong chiến đấu. Trong cuộc chiến với Mtao Mxây, chàng thể hiện rõ được sức mạnh, tinh thần thượng võ của mình. Đăm Săn luôn giành thế chủ động, trong khi Mtao Mxây rơi vào thế bị động. Hình ảnh của chàng trong chiến đấu được miêu tả rất đẹp thông qua những hình ảnh so sánh, phóng đại. Mtao Mxây được miêu tả trước như là đòn bẩy để miêu tả hình ảnh Đăm Săn. Giọng bài văn trở nên hùng hồn, sôi động, thể hiện được tính ác liệt của cuộc chiến. Đăm Săn còn có khả năng thuyết phục người rất cao. Sau khi đánh bại tù trưởng Sắt, Đăm Săn kêu gọi được dân làn về cùng mình, làm cho bản làng ngày càng giàu có, hùng mạnh.
Bài văn sử dụng ngôn ngữ hiền hoà, linh hoạt, hướng đến nhiều đối tượng. Ngôn ngữ của nhân vật trong giao tiếp có những đặc điểm riêng, khai thác dưới nhiều góc độ. Những hình ảnh được sử dụng trong bài thân thuộc với thiên nhiên và cuộc sống hằng ngày của con người Tây Nguyên. Bằng những hình thức liệt kê miêu tả, bài văn càng làm cho giọng điệu trở nên sôi động hơn, và góp phần thể hiện đặc điểm của Đăm Săn.
Sử thi Đăm Săn là một trong những tác phẩm nổi tiếng của dân tộc Việt Nam. Trải qua thời gian, tác phầm càng ngày được hoàn thiện, và hình tượng Đăm Săn sẽ luôn sống mãi, vẫn luôn gắn bó với con người Tây Nguyên, cũng như con người Việt Nam. Tác phẩm sẽ giúp con người nhận thức được rằng: lẽ sống, niềm vui của người anh hùng sử thi có được trong cuộc chiến đấu vì danh dự, hạnh phúc và sữ thịnh vượng cho cộng đồng.
------------
Khoa Nhật -10A8- 2010-2011
Kể lại sử thi "Ramayana"
Tên : Lê Minh Thảo
Lớp: 10A8
BÀI LÀM VĂN tự sự
Đề: Kể truyện “Ramayana”
Bài làm
Sử thi Ấn Độ nổi tiếng có tầm ảnh hưởng sâu rộng, lâu bền trong văn học, văn hóa của dân tộc Ấn và ở nhiều nước Đông Nam Á. Một trong những sử thi tôi rất thích đó là “Ra-ma-ya-na”, tác phẩm hình thành vào khoảng thế kỉ IV- III trước công nguyên và được hoàn thiện bởi người đạo sĩ tài ba Van-mi-ki. Sử thi này gồm 24 000 câu thơ đôi và để hiểu kĩ hơn, ta hãy cùng tóm lược những dòng thơ đầy oai hùng này của Van-mi-ki nhé!
Ra-ma-ya-na là câu chuyện kể về những kì tích của hoàng tử Ra-ma – con trai trưởng của vua Đa-xa-ra-tha. Khi nhà vua muốn truyền ngôi báu cho con trai mình thì thứ phi của ông buộc phải đày ải Ra-ma vào rừng mười bốn năm và trao vương quốc cho con trai bà. Vợ Ra-ma, Xi-ta, là con của thần Đất mẹ Pri-thi-vi, cũng tình nguyện theo Ra-ma chịu lưu đày. Khi thời hạn lưu đày sắp hết, quỉ Ra-va-na dùng mưu bắt cóc Xi-ta. Ra-ma đau buồn khôn xiết và chàng bắt đầu cuộc tìm kiếm vợ mình. Trên đường tìm vợ, Ra-ma gặp và giúp đỡ vua khỉ Xu-gri-va chống lại người anh trai, giành lại vương quốc. Sau đó, chàng được vua khỉ cùng đoàn quân vượt biển, giải cứu Xi-ta ở đảo Lan-ka.
Vợ chồng gặp lại nhau, vô cùng mừng rỡ. Ra-ma nói với Xi-ta bằng một lời lẽ trịnh trọng : “hỡi phu nhân cao quí của ta!”. Chàng đã đánh bại kẻ thù bằng hết khả năng của mình để cứu Xi-ta. Nhưng đó không phải là lí do chính để chàng giết quỉ Gia-na-va, mà vì nhân phẩm của chàng, để xóa bỏ vết ô nhục, để bảo vệ uy tín và danh dự của một dòng họ lừng lẫy, tiếng tăm, để chứng tỏ Ra-ma không thuộc về một gia đình bình thường và vì chàng là một vị anh hùng lí tưởng cho cả dân tộc :” kẻ nào bị quân thù lăng nhục mà không đem tài nghệ mình ra để trả thù là kẻ tầm thường”.
Mặc dù Xi-ta đang mở tròn đôi mắt đẫm lệ với khuôn mặt bông sen, cuộn tóc lượn sóng đứng trước nặt Ra-ma và lòng chàng đang đau như cắt, nhưng vị anh hung dân tộc vẫn phải đưa lời phán quyết người vợ thân yêu của mình :” Nay ta phải nghi ngờ tư cách của nàng, vì nàng đã lưu lại lâu trong nhà một kẻ xa lạ. Giờ đây, nàng đang đứng trước mặt ta, nhưng trông thấy nàng, ta không chịu nỗi, chẳng khác nào ánh sáng đối với người bị đau mắt. Vậy ta nói cho nàng hay, nàng muốn đi đâu tùy nàng, ta không ưng có nàng nữa…”. Nghe những lời giận dữ đó của Ra-ma, Xi-ta đau đớn đến nghẹt thở, như một cây dây leo bị vòi voi quật nát. Trước mặt đông đủ người dân, Xi-ta xấu hổ cho số kiếp của nàng, nàng như muốn chôn vùi cả hình hài thân xác của mình. Mỗi lời nói của của người chồng nàng yêu xuyên vào trái tim nàng như một mũi tên . Nước mắt nàng òa ra như suối, nhưng nó đã kịp nén lại. Gịong nàng vừa nghẹn ngào, vừa nức nở thanh minh cho mình qua những lời nói tố cáo lầm lạc của Ra-ma: nàng quả quyết rằng có thể lấy tư cách mà thề để làm Ra-ma tin vào danh dự của một người vợ chung thủy. Khi Ra-va-na đụng tới nàng thì nàng đang chết ngất đi, những gì Xi-ta có thể kiểm soát , tức là trái tim nàng, là chỉ thuộc về một mình Ra-ma! Nhưng nói đến đây, Ra-ma vẫn không thốt lên một lời nào, chàng vẫn chưa thể tin vào những lời thanh minh của người vợ đã xa cách mình khi lọt vào tay quỉ. Nàng vẫn nức nở: “thiếp còn gì là thanh danh, nếu như chàng vẫn chưa hiểu được thiếp qua tình yêu của thiếp và qua tiếp xúc với tâm hồn của thiếp… Hỡi Đức vua! Như một người thấp hèn bị cơn giận gàiy vò, Người đang nghĩ về thiếp như một phụ nữ tầm thường... Tình yêu của thiếp, lòng trung thành của thiếp nay xem ra hoàn toàn vô ích!”
Dứt lời, Xi-ta òa khóc. Nàng nói với người em Lắc-ma-na: “ Hỡi Lắc-ma-na, em hãy chuẩn bị cho chị một giàn hỏa thiêu. Với nông nỗi đáng buồn hiện nay, đó là phương thức duy nhất cho chị. Chị không muốn sống sau những tố cáo lầm lạc như vậy. Chồng chị không hài lòng về chị, chàng đã ruồng rẫy chị trước mặt mọi người. Giờ thì chị sẽ từ bỏ tấm thân này cho ngọn lửa”. Ra-ma vẫn ngồi, mắt dán xuống đất, ko ai dám nói hoặc nhìn vào chàng, lúc đó nom chàng khủng khiếp như thần Chết vậy.
Xi-ta lượn quanh Ra-ma rồi bươc tới giàn lửa. Nàng cúi lạy chu than, đấng Bra-ma rồi thưa với thần Lửa A-nhi: “Nếu con trước sau một lòng một dạ với Ra-ma thì cúi xin thần hãy tìm cách bảo vệ con., Ra-ma đã coi một phụ nữ trinh tiết như một kẻ gian dối, nhưng nếu con trong trắng, xin thần A-nhi phù hộ cho con”.
Nói dứt lời, Xi-ta dũng cảm bước vào giàn lửa, chẳng khác một lễ vật của lễ tế sinh trong sự đau lòng đứt ruột của mọi người. Nhưng trời đã chứng giám cho đức hạnh của nàng, thần Lửa đem nàng trả lại cho Ra-ma. Anh hùng Ra-ma cùng người vợ thủy chung quay trở về kinh đô, cai quản đất nước trong thái bình, thịnh vượng.
Tính cách của nhân vật đã bộc lộ qua những thử thách, mâu thuẫn và những lời nói quả quyết. Ra-ma-ya-na ca ngợi phẩm chất của người anh hùng và người phụ nữ lí tưởng: trọng danh dự, dùng tài năng để bảo vệ danh dự, phẩm chất của mình. Qua sự tài ba của Van-mi-ki, thể hiện quan niệm của người Ấn Độ cổ đại về một đấng minh quân và một người phụ nữ lí tưởng.
Ra-ma và Xi-ta đã dũng cảm vào sinh ra tử, chiến đấu cho danh dự, giành lại phẩm hạnh cho bản thân mình. Người Ấn Độ tin rằng: chừng nào sông chưa cạn, núi chưa mòn thì Ra-ma-ya-na còn làm say đắm lòng người và cứu vớt họ thoát khỏi tội lỗi.
Lớp: 10A8
BÀI LÀM VĂN tự sự
Đề: Kể truyện “Ramayana”
Bài làm
Sử thi Ấn Độ nổi tiếng có tầm ảnh hưởng sâu rộng, lâu bền trong văn học, văn hóa của dân tộc Ấn và ở nhiều nước Đông Nam Á. Một trong những sử thi tôi rất thích đó là “Ra-ma-ya-na”, tác phẩm hình thành vào khoảng thế kỉ IV- III trước công nguyên và được hoàn thiện bởi người đạo sĩ tài ba Van-mi-ki. Sử thi này gồm 24 000 câu thơ đôi và để hiểu kĩ hơn, ta hãy cùng tóm lược những dòng thơ đầy oai hùng này của Van-mi-ki nhé!
Ra-ma-ya-na là câu chuyện kể về những kì tích của hoàng tử Ra-ma – con trai trưởng của vua Đa-xa-ra-tha. Khi nhà vua muốn truyền ngôi báu cho con trai mình thì thứ phi của ông buộc phải đày ải Ra-ma vào rừng mười bốn năm và trao vương quốc cho con trai bà. Vợ Ra-ma, Xi-ta, là con của thần Đất mẹ Pri-thi-vi, cũng tình nguyện theo Ra-ma chịu lưu đày. Khi thời hạn lưu đày sắp hết, quỉ Ra-va-na dùng mưu bắt cóc Xi-ta. Ra-ma đau buồn khôn xiết và chàng bắt đầu cuộc tìm kiếm vợ mình. Trên đường tìm vợ, Ra-ma gặp và giúp đỡ vua khỉ Xu-gri-va chống lại người anh trai, giành lại vương quốc. Sau đó, chàng được vua khỉ cùng đoàn quân vượt biển, giải cứu Xi-ta ở đảo Lan-ka.
Vợ chồng gặp lại nhau, vô cùng mừng rỡ. Ra-ma nói với Xi-ta bằng một lời lẽ trịnh trọng : “hỡi phu nhân cao quí của ta!”. Chàng đã đánh bại kẻ thù bằng hết khả năng của mình để cứu Xi-ta. Nhưng đó không phải là lí do chính để chàng giết quỉ Gia-na-va, mà vì nhân phẩm của chàng, để xóa bỏ vết ô nhục, để bảo vệ uy tín và danh dự của một dòng họ lừng lẫy, tiếng tăm, để chứng tỏ Ra-ma không thuộc về một gia đình bình thường và vì chàng là một vị anh hùng lí tưởng cho cả dân tộc :” kẻ nào bị quân thù lăng nhục mà không đem tài nghệ mình ra để trả thù là kẻ tầm thường”.
Mặc dù Xi-ta đang mở tròn đôi mắt đẫm lệ với khuôn mặt bông sen, cuộn tóc lượn sóng đứng trước nặt Ra-ma và lòng chàng đang đau như cắt, nhưng vị anh hung dân tộc vẫn phải đưa lời phán quyết người vợ thân yêu của mình :” Nay ta phải nghi ngờ tư cách của nàng, vì nàng đã lưu lại lâu trong nhà một kẻ xa lạ. Giờ đây, nàng đang đứng trước mặt ta, nhưng trông thấy nàng, ta không chịu nỗi, chẳng khác nào ánh sáng đối với người bị đau mắt. Vậy ta nói cho nàng hay, nàng muốn đi đâu tùy nàng, ta không ưng có nàng nữa…”. Nghe những lời giận dữ đó của Ra-ma, Xi-ta đau đớn đến nghẹt thở, như một cây dây leo bị vòi voi quật nát. Trước mặt đông đủ người dân, Xi-ta xấu hổ cho số kiếp của nàng, nàng như muốn chôn vùi cả hình hài thân xác của mình. Mỗi lời nói của của người chồng nàng yêu xuyên vào trái tim nàng như một mũi tên . Nước mắt nàng òa ra như suối, nhưng nó đã kịp nén lại. Gịong nàng vừa nghẹn ngào, vừa nức nở thanh minh cho mình qua những lời nói tố cáo lầm lạc của Ra-ma: nàng quả quyết rằng có thể lấy tư cách mà thề để làm Ra-ma tin vào danh dự của một người vợ chung thủy. Khi Ra-va-na đụng tới nàng thì nàng đang chết ngất đi, những gì Xi-ta có thể kiểm soát , tức là trái tim nàng, là chỉ thuộc về một mình Ra-ma! Nhưng nói đến đây, Ra-ma vẫn không thốt lên một lời nào, chàng vẫn chưa thể tin vào những lời thanh minh của người vợ đã xa cách mình khi lọt vào tay quỉ. Nàng vẫn nức nở: “thiếp còn gì là thanh danh, nếu như chàng vẫn chưa hiểu được thiếp qua tình yêu của thiếp và qua tiếp xúc với tâm hồn của thiếp… Hỡi Đức vua! Như một người thấp hèn bị cơn giận gàiy vò, Người đang nghĩ về thiếp như một phụ nữ tầm thường... Tình yêu của thiếp, lòng trung thành của thiếp nay xem ra hoàn toàn vô ích!”
Dứt lời, Xi-ta òa khóc. Nàng nói với người em Lắc-ma-na: “ Hỡi Lắc-ma-na, em hãy chuẩn bị cho chị một giàn hỏa thiêu. Với nông nỗi đáng buồn hiện nay, đó là phương thức duy nhất cho chị. Chị không muốn sống sau những tố cáo lầm lạc như vậy. Chồng chị không hài lòng về chị, chàng đã ruồng rẫy chị trước mặt mọi người. Giờ thì chị sẽ từ bỏ tấm thân này cho ngọn lửa”. Ra-ma vẫn ngồi, mắt dán xuống đất, ko ai dám nói hoặc nhìn vào chàng, lúc đó nom chàng khủng khiếp như thần Chết vậy.
Xi-ta lượn quanh Ra-ma rồi bươc tới giàn lửa. Nàng cúi lạy chu than, đấng Bra-ma rồi thưa với thần Lửa A-nhi: “Nếu con trước sau một lòng một dạ với Ra-ma thì cúi xin thần hãy tìm cách bảo vệ con., Ra-ma đã coi một phụ nữ trinh tiết như một kẻ gian dối, nhưng nếu con trong trắng, xin thần A-nhi phù hộ cho con”.
Nói dứt lời, Xi-ta dũng cảm bước vào giàn lửa, chẳng khác một lễ vật của lễ tế sinh trong sự đau lòng đứt ruột của mọi người. Nhưng trời đã chứng giám cho đức hạnh của nàng, thần Lửa đem nàng trả lại cho Ra-ma. Anh hùng Ra-ma cùng người vợ thủy chung quay trở về kinh đô, cai quản đất nước trong thái bình, thịnh vượng.
Tính cách của nhân vật đã bộc lộ qua những thử thách, mâu thuẫn và những lời nói quả quyết. Ra-ma-ya-na ca ngợi phẩm chất của người anh hùng và người phụ nữ lí tưởng: trọng danh dự, dùng tài năng để bảo vệ danh dự, phẩm chất của mình. Qua sự tài ba của Van-mi-ki, thể hiện quan niệm của người Ấn Độ cổ đại về một đấng minh quân và một người phụ nữ lí tưởng.
Ra-ma và Xi-ta đã dũng cảm vào sinh ra tử, chiến đấu cho danh dự, giành lại phẩm hạnh cho bản thân mình. Người Ấn Độ tin rằng: chừng nào sông chưa cạn, núi chưa mòn thì Ra-ma-ya-na còn làm say đắm lòng người và cứu vớt họ thoát khỏi tội lỗi.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)