Tìm kiếm Blog này

10 thg 11, 2008

Điều quý giá và thiêng liêng-TÌNH BẠN

Khanh Kim
Trong xã hội hiện nay, khi ta hỏi một ai đó: "Bạn nghĩ điều gì mà bạn cho rằng là quý giá và thiêng liêng nhất?". Người đó sẽ trả lời rằng:" Đó là tình bạn.".
Một trong những hạnh phúc lớn nhất ở đời này là tình bạn, và một trong những hạnh phúc của tình bạn là có một người để gửi gắm những tâm sự thầm kín của riêng mình. Phước thay người nào có tài kết bạn, vì đó là một trong những quà tặng quý giá nhất của Thượng Đế. Món quà này bao gồm nhiều điều hay nhưng trên hết là khả năng vượt khỏi chính mình. Không người nào có thể tự nhiên trưởng thành trên đời này và có một cuộc sống hoàn hảo mà không có ít nhất một người hiểu mình.
Tình bạn sẽ bền vững hơn khi cùng chia sẻ những sở thích, bên nhau trong những vui buồn của cuộc sống. Hãy chọn bạn vì những phẩm chất bên trong và sở thích chung thay vì vị thế của họ. Khi ở bên những người bạn này, bạn sẽ cảm thấy thật thoải mái, đáng tin cậy và có những giây phút thật tuyệt vời.
Khi có điều gì may mắn đến với bạn, bạn ấy là người đầu tiên bạn kể.. Khi bạn có dịp gì để kỉ niệm, bạn ấy sẽ vui mừng một cách chân thành và không bao giờ ghen tị với bạn về điều đó. Đó là một người bạn thật sự. Hãy cho bạn ấy biết bạn ấy ý nghĩa với bạn như thế nào. Bên cạnh những món quà vật chất, hãy làm cho bạn ấy những gì mà bạn ấy làm cho bạn. Một tình bạn sẽ chẳng thể bền vững nếu như thiếu đi những chia sẻ, đồng cảm và hiểu nhau. Cũng giống như một chiếc thuyền không thể đối mặt với phong ba bão táp nếu thiếu đi bất kí một mảnh ghép nào, dù là một mảnh ghép rất nhỏ.
Tình bạn thường được thử thách trong những lúc khó khăn. Nếu bạn luôn sẵn sàng giúp đỡ bạn bè mình trong lúc khó khăn thì họ sẽ nhận ra bạn là một người bạn thật sự. Và ngược lại là bạn cũng sẽ có những người bạn thật sự.

Tình bạn

Hường Cao

Có lẽ những kỉ niệm đẹp nhất của lứa tuổi học trò vẫn là tình bạn. Vậy tình bạn là gì? Tình bạn được thể hiện ra sao và như thế nào? Tình bạn là một tình cảm gắn bó giữa hai hay nhiều người trên cơ sở hợp nhau về tính tình sở thích hay có chung một quang niệm, lí tưởng sống.
Trong cuộc sống, ta có thể nhận ra tình bạn được thể hiện qua nhiều mặt. Trong học tập, bạn bè giúp đỡ lẫn nhau để củng nhau tiến bộ. Hoặc ta có thể thấy những đôi bạn học tập trong nhà trường, trong lớp học hay là những đôi bạn học tập ở nhà. Trong lao động, bạn bè giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành công việc thật tốt. Trong lịch sử, ta có thể nghĩ đến ngay tình bạn giữa Các-mác và Ăng-ghen, giữa Lưu Bình và Dương Lễ. Nhưng không phải lúc nào tình bạn cũng đẹp bởi không có gì gọi là hoàn hảo cả. Nhiều tình bạn nhìn bên ngoài cứ ngỡ rằng rất đẹp nhưng những gì xảy ra bên trong thì ngược lại. Có những người chỉ lợi dụng tình bạn để tạo ra những điều có lợi cho riêng mình. Những điều đó có được mọi người cho rằng đúng hay sai mà tại sao lại có nhiều người hành động như vậy?
Ai trong chúng ta không khỏi xúc động khi đọc những câu chuyện cảm độn g về tình bạn cao đẹp. Chẳng hạn như trong một câu chuyện, một cô gái hằng ngày cõng bạn mình đến trường dù cho thời tiết hay khó khăn như thế nào.... Tình bạn xuất phát từ những tình cảm chân thành mà mọi người dành cho nhau, không mưu toan, tính toán.
Tình bạn giúp cho con người cảm thấy tự tin, yêu đời hơn. Đồng thời, tình bạn còn là món quà tinh thần giúp cho con người tìm được niềm vui trong cuộc sống, là động lực để con người vượt qua những khó khăn. Nếu không có tình bạn, cuộc sống của con người sẽ trở nên cô đơn, tẻ nhạt. Tình bạn đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống của mỗi người.
Là một học sinh, chúng ta cần tìm cho mình một người bạn tốt. Chúng ta phải biết đối xử với bạn một cách chân thành, biết quan tâm, thông cảm, chia sẻ với bạn và trân trọng tình bạn mà mình đang có.

Khát vọng làm quen-Khởi đầu của tình yêu chân chính

Tên: Trần Hồ Thanh ThươngLớp: 10a9STT: 28Trường: THPT Võ Thị Sáu
Đề: Cảm nghĩ về bài ca dao Yêu thương tình nghĩa (phân tích)
Ca dao cổ truyền Việt Nam có nhiều câu diễn tả tăm trạng khi yêu thương ở mọi ngoài cảnh, trang lứa, vùng miền, không phân biệt sang hèn hay già trẻ, bởi lẽ, người Việt Nam vốn dĩ sống rất tình cảm và giàu tình thân mến! nhiều nhất chắc có lẽ phải nhắc đến tình yêu nồng nàn và đê mê của những đôi lứa đang yêu. Có một chàng trai đang chìm đắm trong thứ cảm xúc không thể gọi tên chính xác, khi mà chàng ngỏ lời hỏi:
“Cô kia đứng ở bên sông,
Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang.”

Này thì là cái sự yêu! Khi yêu thì con người ta chỉ muốn được ở bên nhau, được thu gần khoảng cách đôi mắt, được rút ngắn cự li trái tim. Trớ true thay họ lại xa cách nhau cả một dòng sông, đến mức chàng phải cất tiếng vọng sang bờ bên kia. Chàng gọi “cô kia” rồi tiếp lời ngay không chờ lời đáp, tiếp rằng “muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”. Có lẽ chàng trai sợ tiếng thổ lộ ý nguyện muốn được gần em của mình sẽ trôi theo dòng nước trên sông, sợ tấm lòng của mình bị khoảng cách đôi bờ chia rẽ, sợ không thỏa được cái ước vọng có em trong vòng tay. Hình ảnh “cành hồng” thật đẹp, thật lãng mạng và cũng thật tinh tế - tượng trưng cho chiếc cầu chàng muốn bắc nối liền hai bờ, và cũng là nhịp cầu nối hai trái tim đang yêu. Chàng bày tỏ rằng muốn “ngả cành hồng” ý rằng hẳn là chàng trân trọng con đường duy nhất đến với cô gái lắm, mặc dù cơ hội này quá mong manh, vô ảo vô thực. Họa chăng lẽ chính chàng trai đang mơ ước?...

Khoảng cách giữa hai bên bờ sông được giữ nguyên, ước nguyện vượt qua sông để gặp gặp gỡ cũng vẫn vẹn toàn, chỉ có nỗi niềm mông lung. Cô gái tâm sự:
“Ước gì sông rộng một gang,
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.”
Không còn là lời gọi sang bên kia sông, ở đây cô gái đang tự ước ao cho riêng mình. Gọi đối phương là “anh” và xưng “em”, hẳn là hai người họ đã thân thiết và gắn bó quấn quit nhau lắm đây! Gần gũi nhau là thế nhưng cũng có một lúc nào đó bị chia cách: ngày ngày nhìn thấy nhau, ngắm con người đang nắm giữ trái tim mình nhưng lại không được gần nhau, không được trai lời nhận lẽ - những lời nói ngọt ngào nhất đối với những đôi lứa yêu nhau. Sự chia ly đó còn làm con người ta bức bối, bang khuâng hơn bội phần. Chiếc cầu “dải yếm”, cũng nằm ngoài khả năng thực hiện mượn hình ảnh ẩn dụ “dải yếm”, cũng ngoài khả năng thực hiện của cô và chỉ có thể luẩn quẩn, loanh quanh mãi trong ước mơ chính đáng là được gần gũi người mình yêu. Hình ảnh “cầu dải yếm” tuy không có thực nhưng rất đẹp và sâu sắc, còn chiếc dải yếm lại là vật dụng có thực, không những vậy mà còn cực kỳ gắn bó với người phụ nữ. Các nghệ nhân dân gian không sử dụng hình tượng chiếc áo mà nhờ đến vật gần trái tim nhất, vật mang đậm hơi thở, sức ấm của người mặc nó nhất. Chiếc yếm thường mang màu sắc tươi tắn và rực rỡ, cũng tươi vui như chính cảm xúc của cô gái vậy. Dẫu rằng khát vọng được gặp anh chưa bao giờ nguôi ngoai trong lòng nhưng dường nhưng dường như cô gái tin tưởng và rạng rỡ một cách đầy nữ tính mà cũng táo bạo rằng giấc mơ đôi lứa ước hẹn sẽ thành sự thật, và họ sẽ đi bên nhau, bên biển trời xanh mãi.
Tiếp nối điệp khúc “ước gì”, giờ nỗi niềm lại quai về đặt vào lời tự nhủ của chàng trai. Hãy cứ xem rằng nhân vật trữ tình trong bài ca dao dưới đây cũng chính là chàng trai co mong muốn “ngả cành hồng” trên kia. Chàng cũng bộc lộ niềm mong mỏi giấu trong lòng, giờ đây tăng thêm một bậc ý nghĩa hơn và mong tính gắn bó hơn lời ngỏ trên kia, khi mà chàng thốt ra lời nói tự đáy lòng:
“Ước gì anh hóa ra gương,
Để cho em cứ thường ngày em soi.”
Vẫn là biện pháp nghệ thuật “ẩn dụ sử dụng xuyên suốt các bài trên nhưng đầy biến hóa và độc đáo với hình ảnh chiếc gương. Chàng trai không còn ý nhị, kín đáo nữa, tuy nhiên không mất đi sự tin tế , kết hợp nét táo bạo, nhân vật tỏ lòng rằng chàng muốn hóa thành gương để mãi ở bên cạnh người thương cả ngày. Chàng muốn bóng hình em lồng trong tâm can mình, được tôn lên vẻ đẹp rạng ngời anh yêu, được ấp ủ mãi cái ngày tháng êm đềm em ngủ ngoan trong trái tim. Ước muốn của anh giản dị và chân thành, sâu lắng niềm hạnh phúc được ở gần người anh thương. Nhưng thâm tâm anh lo sợ vẫn vơ, lo rằng em soi vào gương sẽ thấy gương mặt mình phai màu xuân thắm vì nỗi lòng xa cách, sợ rằng em soi em thở dài u sầu làm con tim anh quặn thắt. lặp lại điệp từ “ước gì”, chàng trai lại tiếp tục ước:
“Ước gì anh hóa ra cơi,
Để cho em đựng cau tươi trầu vàng.”
Trầu cau là hình ảnh tuyệt đẹp và giàu ý nghĩa. Tập tục ăn trầu đã gắn bó với dân tộc Việt Nam từ rất lâu rồi, từ trước khi có sự tích trầu câu ra đời và trở thành nét đặc trưng đẹp đẽ của người phụ nữ Việt Nam xưa nay nói chung. Cánh trầu ôm ấp lấy cau cứ rực lên sắc thắm dịu êm của vôi têm, là “đầu câu chuyện”, là biểu tượng của sự kết tóc se duyên, của sự sum họp tình yêu đôi lứa tự muôn đời”
“Trầu này trầu quế trầu hôi,
Trầu loan trầu phượng trầu tôi trầu mình.
Trầu này trầu tíh trầu tình,
Trầu nhân trầu ngãi trầu mình lấy ta.”
Trầu năm xưa là thứ thức ăn tao nhã có phần dành riêng cho người phụ nữ nên hiển nhiên “cơi” được xem là món “trang sức” tao nhã luôn kề cận bên họ. Cũng lại là ước mơ được gần gũi và được em nâng niu cất giữ những vật em yêu mến. Sử dụng hình tượng thiêng liêng không thể thiếu trong lễ cưới chắc lọc từ chíh cuộc sống người bình dân, các tác giả dân gian đã thổ lộ hộ chàng trai ước vọng được cưới em, được ăn đời ở kiếp với em và cùng chung sống đến cuối đời. Hơn thế nữa, phải chăng ẩn ý đằng sau là nhấn mạnh việc cưới hỏi của anh và em được công nhận, được tập tục mang đậm bản sắc văn hóa giân gian ủng hộ khi có sự hiện diện của trầu và cau? Nhưng cho dù hiểu theo nghĩaa nào đi chăng nữa, tâm nguyện được nhắc đến ở bài ca dao thứ ba này cũng thuộc mức độ cao nhất trong chuỗi các sự việc tăng dần nhằm bộc lộ khao khát yêu thương và được yêu thương của nhân vật trữ tình. Mặc dù hình ảnh được ẩn dụ mượn hình ở từng bài mang nét đặc sắc riêng rẽ nhưng nhìn chung đều mang thể thơ lục bát, luyến thanh nhẹ nhàng uyển chuyển rất phù hợp với việc bày tỏ tâm tư tình cảm, cùng lời nói vòng kín đáp, tế nhị mà chan hòa, dễ hiểu; từ ngữ cũng giản đơn, dễ đọc dễ hiểu, dễ thuộc dễ nhớ, đậm đà bản sắc Văn hóa dân gian.

Không chỉ dừng lại ở ba bài ca dao thú vị nói trên, đề tài về niềm mơ ước lứa đôi chính đáng còn có rất nhiều viên ngọc quý góp phần tạo nên vẻ long lanh hấp dẫn, cuốn hút.

Con Cò mà đi ăn đêm

Tên: Trần Hồ Thanh ThươngLớp: 10A9STT: 28 Trường: THPT Võ Thị Sáu
Đề bài: Con cò mà đi ăn đêm
Kho tàng ca dao Việt Nam vô cùng phong phú, giàu giá trị tư tưởng, nghệ thuật, là “thơ của vạn nhà”, là tấm gương soi cho tâm hồn và đời sống dân tộc. Ca dao ra đời và tồn tại là để đáp ứng những nhu cầu bộc lộ t ình cảm của người lao động bình dân Việt Nam. Ở đây, người ta không chỉ than thở về cuộc đời, về cảnh ngộ khổ cực đắng cay mà còn là thái độ phản kháng xã hội, chống đối những điều ngang trái ẩn chứa tinh tế. Có khá nhiều câu ca dao mượn hình tượng “con cò” làm phương tiện nghệ thuật xây dựng nên nét đặc sắc riêng, nhưng có lẽ không bài nào có hình ảnh con cò được phác hoạ độc đáo, tỉ mỉ, giàu tính triết lí nhân sinh và sức thu hút như bài:
“Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”

Hình ảnh con cò được bắt gặp rất nhiều trong ca dao dân ca Việt Nam, bởi lẽ, thân cò giống như người nông dân Việt vậy, đời cò sao cũng lắm nhiêu khê lầm than? Cò cũng gầy guộc, cũng chịu thương chịu khó lặn lội kiếm ăn từng chút một. Vất vả và tội nghiệp lắm, khi mà những điều rủi ro ngoài ý muốn luôn chực chờ rình rập xung quanh, chúng cứ lù lù tiến tới, mà ta không biết từ hướng nào đến d6a4u lắm lúc cảm gíc được thật rõ rệt. Run rủi thế nào...

“ Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”
Hai câu thơ lục bát mở đầu ngắn gọn và diễn trọn ý; chỉ là những từ thuần Việt hết sức dân dã nhưng sắp xếp súc tích nên đã cung cấp được những chi tiết khá tường tận và cụ thể về hoàn cảnh lâm nạn của cò. Trước nhất, hai tiếng “ăn đêm” là chi tiết đặc biệt đầu tiên, là nguyên nhân gây ra mọi xung đột về sau trong câu chuyện thương tâm, đồng thời nêu bật lên cái cảnh ngộ tréo ngoe vàngang trái. Tập tính loài cò là đi kiếm an vào ban ngày ngoài đồng ruộng, vốn đã từ lâu trở thành sinh hoạt thường nhật và quy luật tự nhiên của loài. Chỉ khi có điều kiện ngọi cảnh tác động mạnh mẽ, chúng mới phải “đi ăn đêm” cùng loài vạc vốn mâu thuẫn, xung đột ngay cả trong đời thực lẫn ca dao. Đọc kĩ, ta thấy câu ca dao thư’ nhất này lược bỏ chữ “mà” vẫn không làm thay đổi ngữ nghĩa của câu; sự có mặt của nó càng làm tăng tiến thêm điều bất bình thường gây ra cớ sự ấy. Bài ca dao đặc biệt này thuộn thể loại ca dao ngụ ngôn, tức là mượng chuyện vật để nói về người; muốn hiểu được những điều tác giả gửi gắm trong đó thì phải dựa trên cốt truyện và tình tiết diễn biến của vật đó. Bài này vừa có thơ, vừa có truyện và có caa3 kịch nữa: kịch tính cao trào không chỉ nằm ở hoàn cảnh lâm nạn đã nêu ở trên mà còn ở đoạn đối thoại trực tiếp cùng mâu thuẫn nội tâm kịch liệt của nhân vật ngụ ngôn- chú cò đáng thương kia.
Đang ở dưới ao tối, kẻ sắp chết chìm ngoi lên kr6u cứu, rất thảm thiết và thành khẩn. Nó rên rỉ cầu cứu bằng tiếng kêu đứt đoạn, ngắt quãng, lạc lõng:
“Ông ơi ông vớt tôi nào
Cả câu duy nhất từ “vớt” vút nổi lên cao, còn lại đều không dấu và ngang bằng nh
ư thể không vượt qua nổi ranh giới giữa sự sống và cái chết. Liệu tâm hồn nhân vật “ông” có đủ rộng mở, hào hiệp để nghe trọn vẹn câu cầu cứu bi ai không?, vì thật sự con cò chỉ có thể kêu to và rõ mỗi từ “vớt” mà thôi... Giữa đêm tối mà may mắn có được người nhìn thấy mình bị nạn, cò xem như nhân vật “ông” đã ban tặng cho mình một đặc ân được sống. Tia sáng của sự sống vừa loé lên yếu ớt , cò lại tiếp tục chấp nhận bị nghi ngờ cho cái tội “tình ngay lý gian”. Cò lập tức thanh minh:
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng”
Dẫu đang trong tình trạng cấp cứu, hoàn cảnh họn nọn “ngàn cân treo sợi tóc”, con cò vẫn hết sức minh mẫn, tỉnh táo và nhớ rõ sự đời. Sự giúp đỡ sẵn long vô tư hãy còn rất hiếm hoi trên đời! Cái gì cũng có cái giá của nó. Tia sáng sự sống yếu ớt kia được thắp lên, soi cho tâm trí cò hình dung được ba con đường, ba khả năng khác nhau. Một là sự lạnh lùng vô tâm của “ông” dập tắt đi cái khao khát được sống của nó: khi “ông” thấy rồi lại quay lưng ngoảnh mặt làm ngơ, mặc cho con cò chết chìm trong nước. Hai là nó được vớt lên và thương tình cho sống- hết sức mong manh và bấp bênh dẫu cho nó hoàn toàn có quyền đ
ược đối xử như vậy. Khả năng thứ ba được bản than cò và tác giả xem là “triển vọng” nhất, khi mà nó đã lường trước được cái chết còn ghê gớm, thâm hiểm hơn. Cảnh ngộ của cò là cảnh ngộ của kẻ đến bước đường cùnbg, bế tắc và bi kịch, có kah1c gì hoàn cảnh chuung của những con người lương thiện gặp hoạn nạn trong cái xã hội phong kiến đầy rẫy những bất côn, bóc lột và lợi dụng. Có lắm lúc, gặp điều không may, người ta không th6e3 không cậy nhờ vào sự giúp đỡ của người khác; nhưng nào ai có ngờ được sự cứu vớt ấy lại đẩy đưa học đến tai học và nỗi khổ cực kah1c còn lớn hơn, đau hơn trăm nghìn lần. Xót xa biết mấy khi mà niềm tin vừa thắp lên lại bị sự giúp đỡ có chủ ý làm cho lụi tàn. Biếg thế nhưng con cò vẫn thành tâm kêu cứu một cách hồn nhiên và thiết tha, như con người ta vẫn cứ tin vào lòng tốt của nhau vậy.
Tự nhận thức được cơ hội sống của mình là rất nhỏ nhoi, le lói, từ đ1o mà điều băn khoăn, ray rứt của cò giờ đây không phải là sống hay chết mà là đắn đo giữa “chết trong” hay “chết đục”. Cò mơ ước được sống, rất mãnh liệt, nhưng vẫn đủ bình tĩnh nhìn thẳng vào hiện thực, vào cái chết không thể tránh khỏi của mình. Cò đang nhờ đến sự giúp đỡ nhưng không chủ uqan ảo tường, tuyệt đối tin vào lòng tốt của người đời, vì thế cò bày tỏ rằng:
“Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”
Vậy là cò đã chủ động chọn lựa cái chết và chủ động thổ lộ nguyện ước được “chết trong” của mình, rất cao thượng và cũng quá thành thật đến mức tội nghiệp. Thân cò đáng thương nài nỉ van xin lần sau chót:
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con!”
Hai tiếng cò con nghe thiết tha quá, đau đớn quá! “Cò con” là tiếng xưng hô khiêm nhường, khuất phục, lệ thuộc đối với nhân vật “ông”, hay để chỉ thân cò còn nhỏ dại, chưa đủ lông đủ cánh tự bươn chải kiếm sống; hay là ám chỉ thế hệ con cháu của nhân vật ngụ ngôn nói trong bài...?Không aui lý giải thất đáo đ
ược; Nhưng cho dù hiểu theo nghĩa nào thí nó cũng gây ra một sang chấn nho nhỏ trong lòng người đọc, đủ để con người ta thấy xúc động bồi hồi. Sẽ hay và hấp dẫn, thuyết phục hơn khi đặt hình ảnh cò con bé bỏng vào mâu thuẫn nội tâm cò, khi cò còn nhỏ mà đã biết “đau lòng” nếu phải “chết đục”. Mặt khác, sẽ thấy hợp tình hợp lý, dễ đồng cảm nếu hiểu danh từ phiếm chỉ “cò con” là để chỉ thế hệ con của con cò lâm nạn; khi ấy, nỗi đau được nhắc đến là của cả một thế hệ nối tiếp, là nỗi hổ thẹn và sỉ nhục vô chừng của cháu con khi ông cha chúng chết trong hổ thẹn và sỉ nhục.

Toàn bộ bài ca dao duy nhất chỉ là hoàn cảnh và lời thoại đến tứ một phía, ta không thấy có lời đáp hay hành động cụ thể nào từ nhân vật “ông”. Bài ca dao kết thúc đột ngột và mông lung, không ai biết rồi số phận con cò sẽ ra sao. Tác giả dân gian cho phép người đọc tự hìnnh dung ra cái kết của riêng mình để rồi làm con người ta cứ thấy thổn thức trong lòng. Bài ca dao khẽ khàng khép lại nhưng lại mở ra nhiều cái mới mẻ và xúc động. Bằng lối nói ẩn dụ tài tình và biểu cảm, hình ảnh tượng rưng con cò càng tôn lên những phẩm hạnh tốt đẹp, tâm hồn thanh cao của người Việt Nam- những người rơi vào hoàn cảnh trớ trêu vẫn trọng danh dự đến cùng

8 thg 11, 2008

Cảm nhận về bài "Khăn thương nhớ ai"

Họ và tên: Trần Hồ Thanh Thương Lớp: 10A9STT: 28Trường: THPT Võ Thị Sáu
Đề bài: Cảm nhận về bài ca dao “Khăn thương nhớ ai”
Kho tàng ca dao Việt Nam vô cùng phong phú, giàu giá trị tư tưởng, nghệ thuật, là “thơ của vạn nhà”, là tấm gương soi cho tâm hồn và đời sống dân tộc, là niềm tự hào khôn xiết về cái cách mà những con người lao động Việt Nam trực tiếp bày tỏ long mình mà không cần nhờ đến bất kì một khuôn khổ thơ chính quy nào. Họ gửi gắm vào đó là yêu thương, sướng vui, đau khổ; là hoài bão, ước mơ, niềm mong mỏi… Không nằm ngoài chuỗi sáng tác mang đề tài thương nhớ làm nên bản sắc văn hoá dân gian, bài ca dao được nhà phê bình Hoài Thanh đánh giá là “hay nhất Việt Nam”, “ Khăn thương nhớ ai” cũng trĩu nặng niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu, sâu lắng và hay lạ lùng…:
“Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt
Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt
Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ không yên
Đêm qua em những lo phiền
Lo vì một nỗi không yên một bề.”

Ca dao về nỗi nhớ là hợp âm các nốt trầm lắng đọng lòng người trong cung bậc tình yêu - vốn là đề tài muôn thưở và quen thuộc của người bình dân. Nỗi nhớ nhung nào có buông tha một ai? Mọi cảnh huồng, mọi số phận, mọi trang lứa; và nó nhẫn tâm bủa vây, bám víu lấy người con gái đơn chiếc. Nỗi nhớ ấy như muốn thiêu đốt tan chảy cả cõi lòng nhưng lại được che giấu kín đáo và ý nhị, không bộc lộ một cách buông tuồng, suồng sã. Tâm trạng nàng, biết tỏ cùng ai? Những câu hỏi không có câu trả lời, cô dành để hỏi những vật dụng quen thuộc nhất kề bên mình trong lúc cô đơn :
“Khăn thương nhớ ai?...
... Đèn thương nhớ ai?”
Những câu hỏi cất lên rồi lại trôi dạt mãi vào hư vô im tiếng, cứ nén chặt niềm thương nỗi nhớ trong lòng, để rồi chực trào tuôn ra thành tiếng thở dài triền miên. Cái khăn được hỏi đến đầu tiên và cũng được hỏi nhiều nhất’ cô gái hỏi vật trao duyên mang ý nghĩa thiêng liêng duy nhất của mình. Chiếc khăn ấy phải chăng đã ấp ủ biết bao hơi ấm bàn tay, đã thấm đượm nhiều vô chừng những lời ân ái mặn nồng :
“Gửi khăn, gửi áo, gửi lời,
Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa”
Giờ người đã xa, hơi ấm nồng đượm vương vấn nơi đây âu chỉ là nỗi buồn chờ đợi quá khứ, cái không gian cô quạnh cứ miên man trải rông trên nhiều chiều, nỗi nhớ cứ thế mà quanh quẩn trong tâm trí trăm mối tơ vò, khiến vật chứng nhân vô trí vô giác cũng động lòng mà:

“Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt.”
Ba hình ảnh đặc trưng cộng hưởng thêm ba câu thơ láy cô gái tự nhân hoá chiếc khăn lên rồi hỏi: “Khăn thương nhớ ai?”, cùng lối vắt dòng láy tổng cộng sáu lần từ “khăn” thành một điệp khúc tạo cảm giác dường như nỗi nhớ càng thêm triền miên. Mỗi lần hỏi là một lần nỗi nhớ kia thêm trào dâng cuồn cuộn trong lòng. Ôi, sầu đong càng lắc càng đầy! Cô gái đang hỏi chiếc khăn trao duyên hay đang đối thọi với bản thân mình đây? Đằng sau nghệ thuật đảo thanh đầu uyển chuyển, cách sử dụng hình ảnh vận động trái chiều, đằng sau hết thảy các sử “xuống- lên”, “rơi- vắt” của khăn hiện lên hình ảnh một con người rất rõ, con người ấy đang tiếc nhớ khôn nguôi về mối tình đẹp đẽ. Nhớ đến mức không còn tự chủ được dáng đứng bước đi, không thề đứng yên ngồi ổn được, cứ thất thểu ra vào, bởi vậy người ta mới có câu:
“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than”
Nỗi nhớ cứ rừng rực trong lòng, len lỏi vào từng dòng máu thớ thịt, thế mà vẫn không đủ để cản ngăn dòng nước mắt khóc thầm:
“Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt”
Nước mắt em rơi từ khoé lệ u sầu, rơi trên tiếng cười đùa hôm qua, và rơi trên u buồn hôm nay, những “ hai hàng nước mắt đầm đàm như mưa: làm khổ em biết bao nhiêu đêm dài. Nỗi nhớ sâu trong tâm hồn réo thúc bùng sôi nhưng được bộc lộ ý nhị, nọt ngào, mang màu sắc nữ tính, nhẹ nhàng. Cô gái trong bài ca dao là một con người biết trân trọng những kỉ niệm, biết ghìm nén lòng mình, dẫu cho trái tim đã băng hoại vì nỗi buồn man mác gậm nhấm lủi tàn mất rồi. Cái khăn đã giãi bày hộ cô gái cái nghẹn ngào đọng mãi trong lòng không nói ra được. Cái thứ cảm gáic không gọi được tên nặng trĩu trong lòng là thế, vậy mà cứ nhẹ tênh lan toả rộng khắp, thấm đượm vào không gian, vào cả sự đồng cảm nơi người đọc...

Nhưng không chỉ có thế, nỗi nhớ ở đây còn được đong đếm theo bước chân thời gian chứ không chỉ thăng trầm theo từng bước đi của nhân vật. Ban đêm là thời khắc để bất kì con người nào cũng có thể suy ngẫm về người, về đời, rất thật. Đối với cô gái, đó là lúc niềm khắc khoải lại càng làm tim cô đau nhói. Niềm đau ở đây được diễn tả theo một cách riêng, nhất quán và không thể nhầm lẫn. Điệp khúc “thương nhớ ai” được giữ lại trọn vẹn còn tâm sự được gửi gắm tiếp vào ngọn đèn đêm:
“Đèn thương nhớ ai
Mà đèn không tắt”
Cả bài ca dao là một hệ thống các câu hát lẻ độc lập: khi đứng riêng chúng hoàn toàn có thể diễn đạt hết nghĩa, còn khi ghép chúng lại với nau, chúng thu hút người đọc và nỗi lòng trải rộng mãi hết không gian rồi lại sang thời gian. Trong sự ưu phiền vò võ của đêm khuya khắc vợi canh tàn, trong bóng đêm mịt mù đến hốt hoảng, đốm lửa ấm dù nhỏ nhoi trên đầu ngọn bấc kia chứng tỏ người thắp đèn vẫn chưa tài nào ngủ yên được. Cô gái gửi tâm tình ngổn ngang trăm mối những đêm thâu trằn trọc vào ngọn lửa nhỏ, hay chính ngọn lửa tình bất diệt luôn cháy mãi trong tâm can? Chừng nào lửa tình vẫn cháy thì chừng ấy lửa đèn kia tắt làm sao được. Vẫn là câu hỏi không có lời đáp, và vẫn là hình ảnh tượng trưng được nhân hoá, “ngọn đèn” cũng biết thổ lộ bao điều, buộc ta phải rung cảm suy nghĩ nhiều hơn, sâu sắc hơn những điều được đề cập trong lời ca da diết.


Bày tỏ, giãi bày hộ cô gái bằng giá trị tượng trưng rất biểu cảm theo lối nói vòng đầy cuốn hút, nhưng rồi rốt cuộc “khăn” và” đèn”cũng chỉ là cách nói gáin tiếp thông qua biện pháp nhân hoá. Đến dòng thơ thứ chín, không kìm lòng được nữa, thứ “cảm xúc không gọi được tên” trên kia chực vỡ oà, cô tự hỏi chính mình:
“Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ không yên.”
Hình tượng các nghệ nhân dân gian sử dụng thật hợp tình hợp lý, nhất quán và xuyên suốt: “đèn chẳng tắt” vì “mắt không yên”, “mắt không yên” nên “đèn chẳng tắt”. Nỗi ưu tư còn nặng trĩu, khối tinh thần bất biến vẫn vẹn nguyên, tình yêu chung thuỷ chẳng đổi dời. Cứ khép đôi bờ mi đẫm lệ, hình bóng người thương lại hiện về, giấc ngủ dẫu có cũng vô cùng ngắn ngủi và mãi chập chờn những giấc vơ vô ảo vô thực. Năm lần hỏi, năm lần điệp từ “ai” vang lên thổn thức xoày vào lòng ta một nỗi niềm khắc khoải, đồg cảm bi ai. Bản thân từ “ai” mang ý phiếm chỉ, nên câu trả lời thực chất được khẳng địh ngay từn câu hỏi tưởng như không có lời đáp. Cách khẳng định này không được diễn đạt bằng ý chính mà mang tính nghệ thuật, thi vị hơn, mạnh mẽ hơn. Dẫu vậy, với tính chấ nghệ thuật rất riêng của văn học dân gian, chẳng mấy ai yêu quý bài ca dao này không tự lý giải được, rằng không ai khác ngoài chàng trai đã gây nên nỗi lòng cô đọng trong điệp từ “ ai” kia. Mười câu thơ bốn chữ còn hay về cách gieo vần: vần chân xen lẽ vần lưng, trong đó thanh bằng và thanh trắt lại xoắn quýt lấy nhhau tạn nên âm điệu luyến láy liên hoàn, bâng khuâng mãi. Và nếu cứ đi theo cung cách cấu tứ như thế, lòng cứ tự hỏi lòng, thì bài ca dao sẽ trải dài cùng nỗi sầu đến vô tận. Lần theo mạch xúc cảm xuyên suốt, qua tới mấy lần hỏi, điểm cao trào bất chợt xuất hiện đột ngột dưới hình thức câu tho8 lục bát, biến nỗi nhớ nhung dằng dặc kia thành:

“Đêm qua em những lo phiền
Lo vì một nỗi không yên một bề”
Từ nhịp thơ bốn chữ dồn dập và gây rung động lạ kỳ chuyển sang lục bát nhẹ nhàng và xao xuyến, bởi lẽ, cô gái một mực thương nhớ người yêu vẫn biết lo lắng cho số phận trái ngang của mình. Cô nhớ lắm, đến nỗi:
“Qua cầu dừng bước trơng cầu
Cầu bao nhiêu nhịp lòng sầu bấy nhiêu”
Guồng quay cuộc sống thì cứ mãi lừng lững tiến về phía trước, hoàn cảnh trớ trêu không cho phép người con gái đơn thân mãi “ Thương thương nhớ nhớ sầu sầu”, xã hội không đồng ý để cô “Một ngày ba bận ra cầu đứng trông” . Từ “lo” được lặp lại đến hai lần, cùng chỉ từ số nhiều “những” chứng tỏ trong lòng cô gái đang có nhiều lo sợ mênh mông khi nghĩ về người mình yêu cùng một lúc; nhói cả tim khi nghĩ rằng anh sẽ thay đổi, sẽ như” vầng mây bạc giữa trời mau tan”; quặn cả lòng khi hay cả một xã hội phong kiến thối nát đang chực chờ ép duyên... Hạnh phúc quá mong manh và cái quyền tự do yêu đương cũng thật là bấp bênh, khi tình yêu tha thiết chân chính luôn bị nỗi sợ nơm nớp vô biên lấn át, “Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời”. Nỗi lo phiền trĩu nặng tâm can, xuất phát từ chính nỗi nhớ thươngkho6n nguôi, từ khát vọng yêu và được yêu, từ sự bức bối muốn được vùng dậy giải thoát. Tình yêu, nỗi nhớ nơi con tim mồ côi và nguội lạnh vẫn cứ chan chưa tình người, dạt dào sức sống mà không hề bị luỵ, đau thương, yếu hèn. Càng yêu, càng nhớ thì con người ta càng bộc lộ sự lạc quan trữ tình và chung thuỷ của mình:
“Chờ anh cho tuổi em cao
Cho duyên em muộn má đào em phai”
Để diễn tả được hết nỗi long cũng như tính nhân văn sâu sắc, bài ca dao mang những yếu tố thi pháp và biện pháp nghệ thuật quen thuộc: điệp từ, điệp ngữ gây cảm giác quyến luyến mà dồn dập; dùng hình ảnh tượng trưng và nhân hoá chúng đạt hiệu quả cao. Quan trọng hơn cả, ẩn chưa trong toàn bài ca dao là nét đẹp kín đáo, thu hút, đằm thắm nữ tính; khá đặc biệt so với các khúc ca thương nhớ khác dung hình thức biểu đạt trực tiếp…:
“Nhớ ai hết đứng lại ngồi,
Ngày đêm tơ tưởng một người tình nhân.”

“Nhớ ai nhớ mãi thế này?
Nhớ đêm quên ngủ, nhớ ngày quên ăn”

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?

...Vì thế, “Khăn thương nhớ ai” luôn có một chỗ đứng nhất định trong ca dao nỗi nhớ nói riêng , toàn bộ kho tàng văn học dân gian nói chung và một vị trí riêng trong lòng người đọc. Vượt chặng đường “những mấy nghìn năm”, bài ca dao sẽ mãi là viên ngọc long lanh, tuy hình thành từ bàn tay thô kệch nhưng được gọt giũa bởi tấm lòng và tâm hồn đẹp đẽ cao quý của người bình dân Việt Nam.